Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Khủng Hoảng Trung Quốc

Khủng Hoảng Trung Quốc

Tác giả: Hùng Tâm/NV
Wednesday, August 07, 2013

Vì sao bị khủng hoảng và tại sao thiên hạ không thấy?

Sau nhiều tháng phân vân, hầu hết giới bình luận kinh tế đều đã có chung một nhận định. Rằng kinh tế Trung Quốc sẽ đối mặt với một vụ khủng hoảng tài chánh tương tự như Nhật Bản năm 1989-90, Nam Hàn năm 1997-98, hay Hoa Kỳ năm 2008-09. Và sau đó sẽ là một vụ khủng hoảng kinh tế kéo dài trong nhiều năm, như Nhật Bản đã từng gặp từ 1991 đến nay. 
 

Với nhiều người theo dõi tình hình kinh tế và chính trị Trung Quốc từ lâu – phải hơn chục năm – chuyện khủng hoảng không là bất ngờ mà còn được tiên báo, nhưng ít được chú ý vì trái với nhận định của “dòng chính” (mainstream). Nhiều quỹ đầu tư, giáo sư kinh tế hay chuyên gia học giả không ngớt lời ngợi ca phép lạ kinh tế của Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng trên 10% một năm trong mấy chục năm liền và đã vượt qua sản lượng của Ðức, rồi Nhật. Từ đó, người ta dự báo Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ để có nền kinh tế đứng đầu thế giới trong thập niên này.

Bây giờ thì mọi chuyện đều đảo ngược. Theo sau các quỹ đầu tư bị lỗ vốn khi quá tin tưởng vào triển vọng kinh tế Trung Quốc, nhiều nhà bình luận đã bắt đầu xét lại… Tác giả xin nêu câu hỏi là “Tại sao ít ai nhìn ra chuyện này?”
MEA CULPA 2008-2012

Muốn có giải đáp, chúng ta hãy nhìn vào chuyện gần rồi mới tìm hiểu về chuyện xa.

Cuối năm 2007, kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm (recession) là khi đà tăng trưởng giảm sút trong hai quý liền. Nạn suy trầm xảy ra sau giai đoạn sung mãn của thị trường gia cư từ quãng 2002 đến 2006. Ðầu năm 2008, khủng hoảng tài chánh đã từ Âu Châu lan về Hoa Kỳ và bùng nổ với sự sụp đổ của các tổ hợp đầu tư Bear Sterns rồi Lehman Brothers, tập đoàn bảo hiểm AIG, v.v…
Từ đó, kinh tế thế giới bị “Tổng suy trầm” (Global Recession) trong hai năm liền.
Ðấy là lúc các chuyên gia, học giả, báo giới và chính khách nói đến một vụ Tổng khủng hoảng của Tư bản Chủ nghĩa, chẳng khác gì thời 1929-1933, và sự suy thoái (depression) của Hoa Kỳ sau khi đã chi tiêu và bành trướng quá mạnh. Nhận định ấy sai, nhưng không thuộc phạm trù về bài này.
Khi đó, truyền thông báo chí hùa theo sự lạc quan hồ hởi của các quỹ đầu tư mà nói về chương trình kích thích kinh tế vĩ đại của Trung Quốc, khởi sự từ tháng 11 năm 2008 và tiếp tục cho đến năm 2010 là khi kinh tế xứ này vượt qua Nhật Bản. Theo phản ứng bày đàn, như trong một vụ trứng cút tại Việt Nam, nhận định chung của nhiều người là “may quá còn có Trung Quốc!”

Nhờ ngân khoản kích cầu khổng lồ để bù vào sự suy trầm chung của Hoa Kỳ rồi Âu Châu, Trung Quốc vẫn duy trì được sức tăng trưởng cao. Chẳng những không hề sa sút mà còn có thể là một đầu máy cho kinh tế thế giới. Giai đoạn lạc quan ấy kéo dài cho đến đầu năm 2012, khi Trung Quốc lại chuẩn bị Ðại hội đảng Khóa 18 vào cuối năm với nhiều biện pháp kích thích nữa. Ðấy là lúc người ta nói đến trào lưu tất yếu là “Tàu sẽ vượt Mỹ”.
Nhiều người còn đề cao mô hình phát triển của Trung Quốc như giải pháp có giá trị hơn, nhờ sự can thiệp sáng suốt của một nhà nước anh minh, cũng tương tự như ông Obama của Mỹ! Ðến cuối năm 2012 thì người ta mới bàng hoàng nhận ra một sự thật khác là cổ phiếu Trung Quốc rớt như cục gạch và núi nợ ngân hàng cao chất đống bắt đầu rung chuyển….
Qua năm 2013 thì nhạc lắng mây chìm! Nhiều quỹ đầu tư thành thật khai báo với thân chủ rằng “lỗi tại tôi mọi đàng,” mea maxima culpa.
Sai ở đâu?

Ðây là những lý do đầu tiên và dễ thấy nhất của sự sai lầm vĩ đại của giai đoạn 2008-2012.Trên thế giới, người ta có 1) nền kinh tế đã phát triển (của khối công nghiệp hóa là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, cộng với một số quốc gia tiên tiến như Canada, Úc, Tân Tây Lan) và 2) các nền kinh tế đang phát triển. Trong nhóm đang phát triển hay đang lên (emerging), có Trung Quốc.
Quy luật vận hành của hai khối kinh tế đã và đang phát triển có khác biệt chứ không hoàn toàn giống nhau. Một khác biệt nữa là các nước công nghiệp hóa đều theo chế độ dân chủ và công khai hóa mọi vấn đề lẫn tranh luận về giải pháp. Họ tạo ra một hình ảnh hỗn loạn, bất nhất và thiếu ổn định. Nghĩa là sự bất trắc của chủ nghĩa tư bản!
Trong khối đang phát triển lại còn có hai loại quốc gia. Nhiều nước có tài nguyên thiên nhiên như nguyên nhiên vật liệu và nhiều nước có dân số đông đảo như nguồn lực chính của phát triển, là trường hợp Trung Quốc. Tuy nhiên, nét tương đồng của khối này là thông tin thiếu minh bạch, thị trường thăng giáng thất thường, quản trị kém về kinh doanh và quản lý kém về kinh tế. Vì vậy họ mới là “đang phát triển.”
Người ta đã chủ quan nhìn vào quy luật vận hành của các nước đã phát triển mà đánh giá các nền đang phát triển và vì vậy nhận định sai về những rủi ro khi đầu tư.
Các nước đã phát triển đều tiến lên trình độ trưởng thành với mức tăng trưởng thấp, nghĩa là doanh lợi đầu tư cũng thấp hơn các thị trường mới nổi, là nơi có thể kiếm lời rất nhanh và nhiều, mà cũng bị rủi ro lớn. Người ta đánh giá sai những rủi ro tại Trung Quốc, nên mới hồ hởi sảng.
Các quỹ đầu tư vào thị trường Hoa lục, hay “chuyên gia về Trung Quốc” còn tác động vào dư luận qua truyền thông báo chí để chỉ nhấn mạnh đến phần tích cực của Trung Quốc và càng làm dư luận nhìn sai sự thật.
Chuyện sai lầm này còn dễ xảy ra khi công chúng suy đoán rằng tương lai là một nối tiếp hay phóng dội của quá khứ. Vì kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 10% một năm so với 2-3% – hay còn thấp hơn – của khối công nghiệp hóa, tương lai sẽ là một sự vượt bậc. Làm ăn tại các nước đã phát triển mà lời được 5% một năm thì khó, chứ tại Trung Quốc thì có thể lời gấp ba.
Hai sai lầm ấy – nhìn sai quy luật bất trắc của các nước đang phát triển và cả tin vào kết quả đã qua để dự báo tương lai – là lý do phổ biến nhất.
Lý do thứ ba thuộc một lãnh vực chuyên môn hơn. Kinh tế các nước đều phải có khả năng phát triển bình hòa tự nhiên chứ không thể mãi mãi trông cậy vào sự kích thích của nhà nước. Biện pháp kích thích là bất thường và hãn hữu khi sản xuất sút giảm, và phải chấm dứt để khỏi là liều thuốc đổ bệnh. Một thí dụ là kinh tế Hoa Kỳ được kích thích với ba đợt QE, là điều bất thường.
Khi tình hình đã khả quan hơn thì việc bơm tiền phải giảm dần và lượng tiền bơm ra sẽ phải được hút về. Tháng Sáu vừa qua, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ gọi việc điều chỉnh này là “taper,” vuốt lại biện pháp kích thích. Trong mấy ngày qua, khi giới chức ngân hàng dự trữ tại Dallas, Chicago rồi St. Louis, Cleveland nhận định là tháng Chín này thì có thể hãm đà bơm tiền, các thị trường cổ phiếu đều rớt giá vì sợ mất cơ hội kiếm lời. (Bài “Kinh tế cũng là Chính trị” của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa có giải thích chuyện đó trên cột báo này vào Thứ Ba vừa qua).
Tại Trung Quốc, biện pháp kích thích bằng đầu tư và tín dụng của nhà nước còn cao gấp bội nếu so với Hoa Kỳ và khi khối tín dụng ấy vượt quá 220% Tổng Sản Lượng GDP trong có mấy năm thì người ta phải thấy là có sự gì đó rất bất thường. Vài con số sau đây có thể cho thấy sự bất thường đó:
Kinh tế Hoa Kỳ có sản lượng cỡ 16 ngàn tỷ đô la, biện pháp kích thích kiểu QE từ 2008 đến nay lên tới khoảng hơn hai ngàn 400 tỷ, đang được coi là quá lớn nên phải “vuốt lại.” Kinh tế Trung Quốc có sản lượng chừng tám ngàn tỷ mà lại được kích thích bằng tín dụng đến 23 ngàn tỷ đô la thì sẽ là liều thuốc đổ bệnh.
Nhưng vấn đề không chỉ là những nhận định sai lầm trong giai đoạn ngắn hạn từ sau vụ Tổng suy trầm. Nền kinh tế Trung Quốc có nhiều nhược điểm sâu xa hơn. Cho nên sau một vụ khủng hoảng tài chánh vì bơm tiền quá nhiều thì sẽ còn bị một vụ khủng hoảng kinh tế.
Chúng tôi xin liếc qua chuyện đó trong cơ cấu kinh tế Trung Quốc.
Nhược điểm căn bản và sâu xa

Sau khi Ðặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ đầu năm 2009, Trung Quốc chỉ áp dụng chiến lược phát triển của Nhật Bản, lấy đầu tư và xuất cảng làm lực đẩy. Kết quả ngoạn mục mà không là phép lạ là lực lượng lao động đã được giải phóng.Mấy trăm triệu dân được phép làm ăn mà không bị trưng thu hay cấm đoán như dưới thời Mao Trạch Ðông.
Nhưng kết quả cứ gọi là ngoạn mục ấy cũng là những thống kê không đáng tin, cao hơn thực tế, và lại che giấu những phí tổn phi kinh tế hay vô hình vì khó đếm: sự hủy hoại môi sinh. Giải quyết bài toán môi trường này sẽ là một nan đề của tình trạng “tăng trưởng thiếu phẩm chất.” Trung Quốc sẽ mất nhiều thế hệ cho bài toán này.
Hiện tượng tăng trưởng thiếu phẩm chất còn có một tai họa cụ thể và dễ thấy hơn: sự lãng phí trong đầu tư.
Nhiều dự án hay kế hoạch có giá trị kinh tế rất thấp vẫn cuốn hút tài nguyên của nhà nước, gây vấn đề cho môi sinh và thổi lên bong bóng đầu cơ. Chúng được duy trì vì đem lại lợi lộc cho các đảng viên cán bộ và tay chân thân tộc. Nghĩa là Trung Quốc đầu tư rất nhiều với kết quả rất thấp và gây lãng phí rất cao mà nhà nước vẫn cứ bơm tiền kích thích nên sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chánh vì doanh nghiệp phá sản và ngân hàng vỡ nợ.
Một nhược điểm khác còn sâu xa hơn nữa, đó là địa dư hình thể cực kỳ bất lợi của Trung Quốc.
Khu vực duyên hải là nơi dễ sống và tạo lực đẩy cho xuất cảng nên thu hút đầu tư rất mạnh vì tương đối có hiệu năng đầu tư cao hơn. Khu vực nội địa, nơi sinh sống của 900 triệu người trên hai phần ba diện tích toàn quốc, mới là vùng lạc hậu.
Hiệu năng đầu tư ở nơi đây quá thấp và ít được chú ý nên đào sâu sự dị biệt và bất công. Chính quyền trung ương tại Bắc Kinh có thấy vấn đề và đã nhiều lần tìm cách điều chỉnh kể từ hai chục năm nay mà chưa thành công. Một trong nhiều nguyên do là sự cưỡng chống hay cản trở của các đảng bộ địa phương.
Trung ương không mạnh như người ta thường nghĩ và hệ thống chính trị Trung Quốc không khắc phục được bài toán này của thiên nhiên và địa dư hình thể.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng thiếu rất nhiều tài nguyên. Loại chiến lược là năng lượng hay cả thực phẩm thì vẫn phải nhập cảng. Loại sinh tử vì không có thì chết, là nước ngọt, lại còn khan hiếm hơn. Lãnh đạo xứ này đã lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn và thượng nguồn của các dòng sông lớn để tìm ra nước mà không xong. Họ đã lấy nước sông Trường giang (Dương Tử) để bổ sung cho Hoàng Hà và gây ô nhiễm nặng mà vẫn thiếu nước, trong khi 90% mạch nước ngọt đều bị nhiễm độc.
Sức mạnh sau cùng là dân số rất đông thì cũng bắt đầu có vấn đề sau ba chục năm kế hoạch hóa gia đình theo kiểu “mỗi hộ một con.” Dân số Trung Quốc hết tăng và sẽ giảm từ năm 2026 và tỷ lệ cao niên đang thành gánh nặng mà thành phần đang ở tuổi lao động sẽ phải cưu mang. Tức là Trung Quốc cũng bị hiện tượng lão hóa và không thể tăng trưởng mạnh như trước.
Sau cùng, khi nhược điểm của chiến lược tăng trưởng bằng đầu tư và xuất cảng đã tỏ lộ, lãnh đạo của họ phải tìm cách cân bằng lại lực đẩy, là nâng cao khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa.
Ðấy là trọng tâm của kế hoạch cải cách và chuyển hướng. Nhưng chưa chắc là họ sẽ thành công vì những nhược điểm tích lũy vừa nói ở trên, kể cả sự cản trở của các nhóm lợi ích ngay trên thượng tầng. Nếu như có thành công thì trong 10 năm tới, đà tăng trưởng sẽ sút giảm mạnh, ở dưới mức 5% một năm và có thể còn thấp hơn. Rủi ro xã hội và chính trị của mức tăng trưởng thấp có thể đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Kết luận ở đây là gì?

Trung Quốc sẽ phải chuyển hướng và cải cách theo quy luật tự do hơn của tư bản chủ nghĩa thì mới thoát hiểm về kinh tế. Ðấy là chủ trương của thế hệ lãnh đạo mới. Nhưng khi ấy, đảng sẽ gặp mâu thuẫn về chính trị hay tư tưởng. “Xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Quốc” của một đảng Cộng sản có còn giá trị gì không? Ðây là câu hỏi cho học giả hàn lâm! Một cách lạc quan thì thế giới có cả chục quốc gia đông dân khả dĩ bù đắp vào giai đoạn sa sút của Trung Quốc nên sẽ thu hút đầu tư và tìm ra cơ hội mới. Nhưng trong số này KHÔNG có Việt Nam vì lãnh đạo Hà Nội học đúng bài bản của Trung Quốc nên kinh tế đang bị khủng hoảng.

Và khi Trung Quốc có loạn, hoặc nếu Trung Quốc có loạn, Việt Nam sẽ bị hậu quả đầu tiên.

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Vòng quay của tiền

mấy năm nay ai ai cũng thấy cuộc sống khó khăn ngột ngạt, họ kiếm tiền khó khăn hơn trước rất nhiều. Vậy có phải nền kinh tế này đang thiếu tiền, không không phải vậy nền kinh tế này đang có nhiều tiền hơn mức cần thiết nhưng tại sao mọi người vấn khó kiếm tiền. Đó là vì vòng quay của tiền hiện tại chỉ là 0.8 lần trong khi đó năm 2010 vòng quay của tiền là 2.5 lần, mọi người cứ tưởng tưởng thế này cho dễ hiểu năm 2010 tổng lượng tiền trong xã hội khoảng 3 triệu tỷ vòng quay của tiền là 2.5 lần vậy có nghĩa là xã hội đã chung chuyển số tiền 7.5 triệu tỷ như vậy mọi người kiếm tiền rất rễ chính vì vậy mà ai ai cũng hào phóng chi tiêu dẫn đến con số lạm phát năm 2011 là 18%. còn như năm 2012 và 2013 nền kinh tế có khoảng 4 triệu tỷ đang lưu thông nhưng số tiền chung chuyể chỉ có 3.2 triệu tỷ chính vì vậy mà mọi người mới thấy tiền mặt cực kỳ khan hiếm rất khó kiếm tiền và do đó chi tiêu bị thắt chặt lạm phát sẽ giảm. Điều hành kinh tế của chính phủ giống như điều chỉnh huyết áp của một con người nếu để vòng quay của tiền quá nhanh cũng không có lợi nhưng nếu để huyệt áp tụt như hiện nay thì nó cũng giống như một cơ thể lừ đừ không còn sức sống .

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Trở lại chuyện GDP và GNI

Trở lại chuyện GDP và GNI
Nếu tính cho đúng thì tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam năm ngoái bị giảm đi 7,5 tỷ đô-la; thu nhập đầu người của dân Việt Nam giảm 196 đô-la. Số giảm này chạy đi đâu, vào tay ai và vì sao có chuyện kỳ lạ này?
Đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) ngày càng chiếm một tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế. Chỉ cần quan sát trên thị trường cũng có thể thấy từ những sản phẩm đơn giản như bột giặt, kem đánh răng đến các sản phẩm lâu bền như TV, tủ lạnh rồi những sản phẩm đắt tiền như máy tính, xe hơi… toàn là hàng của các doanh nghiệp FDI sản xuất hay lắp ráp. Đầu tư nước ngoài hiện đang lấn sang những lãnh vực trước đây là của doanh nghiệp trong nước như nhà hàng và nhiều loại dịch vụ, mua nông sản như cà phê, sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, bán lẻ. Lần lượt các tên tuổi trong nước gầy dựng từ thời mở cửa đến nay đã sang tay cho nhà đầu tư nước ngoài.
Có cách nào để đo lường sự thay đổi này?
Có lẽ mọi người đều biết ngoài GDP ra, người ta còn tính GNI để biết chính xác hơn công dân một nước làm ra bao nhiêu để loại trừ công dân nước ngoài đang làm ăn trên nước họ. Trong khi GDP (tổng sản phẩm quốc nội) tính theo địa bàn lãnh thổ thì GNI (tổng thu nhập quốc dân) tính theo công dân hay pháp nhân của nước đó, bất kể họ đang ở đâu. Bởi vậy một nhà máy của người Nhật đầu tư ở Việt Nam thì lợi nhuận ròng của họ được tính vào GNI của Nhật chứ không phải của Việt Nam. Nói cách khác, GNI bằng GDP + thu nhập sở hữu – chi trả sở hữu.
Số liệu của World Bank (GDP và GNI theo giá thực tế) cho thấy chênh lệch giữa GDP và GNI của Việt Nam ngày càng lớn (xem bảng).
                   2003   2004   2005   2006   2007   2008   2009   2010   2011   2012
GDP (tỷ USD)   39,5   45,4    52,9    60,9     71       91       97,2   106,4   123,7  141,7
GNI (tỷ USD)   38,9    44,6    51,9   59,5      68,8    88,1    92,6   102     117,8   134,2
Chênh lệch    0,6      0,8      1        1,4        2,2      2,9     4,6      4,4     5,9      7,5
(tỷ USD)
GDP đầu người        492    558    642    731    843    1.070  1.130  1.224  1.408  1.596
GNI đầu người         480    550    630    700    790    920    1.030  1.160   1.270  1.400
Chênh lệch                   12          8        12       31      53      150          100        64        138        196
(USD)
(Nguồn: World DataBank)
Chênh lệch năm ngoái lên đến 7,5 tỷ đô-la là rất lớn so với cách đây 10 năm, chênh lệch chỉ 0,6 tỷ đô-la mặc dù lúc đó Việt Nam đã mở cửa cho đầu tư nước ngoài đã hơn 15 năm. Còn thu nhập đầu người chênh nhau gần 200 đô-la, cũng là con số đáng lo khi vào năm 2003, mức cách biệt chỉ là 12 đô-la.  
Đáng chú ý hơn, nhiều dữ kiện cho thấy mức chênh lệch này ngày sẽ càng lớn hơn trong những năm sắp tới. Đó là hiện nay đầu tư nước ngoài chưa đưa thu nhập ròng về nước nhiều, họ dùng nó để mở rộng đầu tư. Thứ hai, khi việc trả lãi nợ nước ngoài ngày càng nhiều thì tương lai GNI lại càng nhỏ hơn GDP bởi trả nợ nước ngoài thì GDP vẫn không thay đổi trong khi sẽ làm GNI giảm đi tương ứng. Thứ ba, nếu các doanh nghiệp trong nước bán một phần tài sản của mình cho nhà đầu tư nước ngoài, GDP vẫn y nguyên nhưng GNI bị khấu trừ. Một bài viết trên TBKTSG của Bùi Trinh vào năm 2010 từng nhận định: “Nếu năm 2000 phía Việt Nam phải chi trả cho nước ngoài 6.300 tỉ đồng thì đến năm 2009 phần phải chi trả sở hữu cho nước ngoài lên đến gần 91.000 tỉ đồng, chủ yếu là lãi tiền vay và doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước”.
Người bi quan có thể cho rằng nếu xu hướng này tiếp diễn, chẳng bao lâu nữa, GDP Việt Nam vẫn tăng nhưng thu nhập đầu người Việt Nam chẳng tăng thêm bao nhiêu và cuối cùng thu nhập ấy dồn về cho người nước ngoài cả. Cũng trong bài báo của Bùi Trinh đã trích dẫn ở trên, tác giả cho biết: “Tốc độ chi trả sở hữu ra nước ngoài tăng bình quân hàng năm khoảng 34% (còn GDP tăng bình quân 7,3%)”, tức tiền trả cho nhà đầu tư nước ngoài tăng nhanh hơn tốc độ tăng GDP nhiều lần, dẫn đến chênh lệch giữa GDP và GNI ngày càng lớn là chuyện không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế đang lâm vào cảnh bế tắc, nền kinh tế dân doanh gây dựng từ sau đổi mới đến giờ đã cạn sức, co cụm và phòng thủ, để tạo công ăn việc làm, để xã hội không rơi vào chỗ xáo động, càng khó khăn hơn nữa, việc nhà đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế vẫn là xu hướng tích cực hơn là đáng lo ngại. Nhưng đây là xu hướng không mong muốn về lâu về dài và mọi nỗ lực phục hồi nền kinh tế trong dài hạn phải tính đến chuyện nâng sức cho khu vực kinh tế trong nước để con số tăng trưởng GDP thường được nhắc đến là có ý nghĩa thật sự cho người dân, chứ không phài chủ yếu cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhìn vào số liệu trên cũng có thể thấy tăng trưởng GDP thường cao hơn tăng trưởng GNI hay nói cách khác, nhìn vào GDP không thôi thì sẽ ảo tưởng hơi nhiều về sự thật sức mạnh của nội lực kinh tế trong nước. Điều cuối cùng, chênh lệch giữa GNI và GDP càng lớn thể hiện mức độ dễ tổn thương của kinh tế Việt Nam với những cú sốc của dòng vốn ngoại.

Chỉ còn biết hy vọng đến lúc nền kinh tế phục hồi, biết đâu sẽ có làn sóng mua lại sản nghiệp từ tay người nước ngoài. Và hiện nay cũng đã có nhiều doanh nghiệp tìm đường làm ăn ở bên ngoài. Biết đâu tương lai họ sẽ góp phần vào GNI của Việt Nam một cách đáng kể.

Cập nhật: Anh Vũ Quang Việt có góp ý: GNI và GDP đều không dựa vào khái niệm công dân (citizens) mà chỉ dựa vào khái niệm thường trú - residents (tức là ở một địa bàn kinh tế hơn 1 năm). Mặc dù trong trường hợp Việt Nam 99,9% residents là citizens nhưng phải dùng từ chính xác để khỏi hiểu sai. Cám ơn anh Việt.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Căn hộ, biệt thự tại Hà Nội vẫn tiếp mạch giảm giá

Cả phân khúc căn hộ chung cư lẫn biệt thự, liền kề tại Hà Nội vẫn đang có xu hướng giảm giá trong bối cảnh thanh khoản chưa được cải thiện.

Báo cáo kết quả khảo sát thị trường bất động sản Hà Nội trong quý 2/2013 của Savills Việt Nam cho thấy, thị trường biệt thự, nhà liền kề tại Hà Nội sau nhiều quý liền sụt giảm, hiện vẫn chưa có dấu hiệu tích cực.

Trên thị trường, dạng hợp đồng mua bán có thêm 150 căn từ dự án Nam An Khánh tại huyện Hoài Đức, còn lại không có nguồn cung mới được đưa ra thị trường dạng hợp đồng góp vốn.

Tống số căn toàn thị trường khoảng 42.000 căn từ 124 dự án, trong đó, khoảng 29.900 căn nhà gồm 16.900 nhà liền kề và 13.000 biệt thự đến từ 101 dự án hợp đồng mua bán. Nguồn cung còn lại đến từ các dự án dạng hợp đồng góp vốn

Khảo sát của Savills cho thấy thanh khoản của thị trường vẫn thấp. Giá chào bình quân của toàn thị trường giảm 2% ở hạng mục biệt thự và 5% ở hạng mục liền kề so với quý trước, mức giảm thấp nhất trong gần 1 năm trở lại đây.

Giá chào thứ cấp trung bình tại các quận nội thành dao động từ 20 - 150 triệu đồng/m2, trong khi đó giá chào thứ cấp trung bình tại vùng ven đạt mức cao nhất 50 triệu/m2 tại quận Hà Đông.

Theo bà Đỗ Thị Thu Hằng, Giám đốc bộ phận nhà ở của Savills, tuy thị trường vẫn trong xu hướng sụt giảm, song có một vài yếu tố được cho thúc đẩy phân khúc này, khi mà tâm lý chung của người Việt vẫn xem nhà đất, nhà xây riêng lẻ vừa là dạng nhà ở tốt nhất vừa là kênh đầu tư dài hạn và an toàn, đặc biệt là những căn nhà có chứng nhận pháp lý về quyền sử dụng đất. Có đến 93% tổng dân số sở hữu nhà riêng, điều này sẽ hỗ trợ cho thị trường biệt thự và nhà liền kề, tất nhiên phải đi kèm điều kiện là các mức giá phải trở nên hợp lý hơn.

Bên cạnh đó, hiện mức trần lãi suất huy động tiếp tục giảm 0,5% về mức 7%/năm có thể dẫn đến việc lãi suất cho vay tiếp tục giảm, hỗ trợ thêm cho thị trường nhà ở; đồng thời nó cũng có thể khiến cho các nhà đầu tư và những người giàu có chuyển hướng kênh đầu tư của họ sang bất động sản thay vì việc gửi ngân hàng.

Cùng với đó, số dự án tương lai có thể giảm trong các năm tới do UBND thành phố Hà Nội quyết định dừng cấp phép cho các dự án nhà ở thương mại từ nay đến hết năm 2014 và các dự án đã trì hoãn triển khai trong thời gian dài có thể bị rút giấy phép.

Đối với phân khúc căn hộ chung cư, trong cả quý 2/2013, có tất cả 8 dự án mới tại các quận Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai và Từ Liêm gia nhập thị trường, cung cấp khoảng 2.100 căn. Tổng nguồn cung sơ cấp đạt 11.700 căn, tăng 7% so với quý trước. Trong đó Hà Đông và Từ Liêm là nguồn cung chính, chiếm 51% thị phần. Cầu Giấy, Từ Liêm và Hà Đông cũng là nguồn cung chính của thị trường thứ cấp, chiếm tổng số 53% thị phần.

Giá chào bán sơ cấp dao động từ 10 - 94 triệu/ m2, không thay đổi so với quý trước. Tỷ lệ hấp thụ đạt 7%, tăng 2 % so với quý trước do tình hình hoạt động tốt của các dự án có tiến độ xây dựng nhanh và giá hợp lý, đặc biệt là phân khúc bình dân tiếp tục chiếm thị phần lớn thị trường với 74% tổng số căn bán được.

Tuy nhiên, giá chào bán thứ cấp trung bình của phân khúc này đã giảm ở tất cả các quận/huyện do thanh khoản thấp. Mức giảm cao nhất là ở huyện Từ Liêm với mức giảm 7% so với quý trước, theo sau là các quận Long Biên, Ba Đình và Cầu Giấy với mức giảm cao nhất là 5% ở mỗi quận.

Trong quý 2 vừa qua thị trường cũng chứng kiến số dự án bán căn hộ xây thô tăng do chủ đầu tư muốn giảm mức giá thành mỗi căn hộ nhằm thu hút thêm người sử dụng cuối cùng.

Theo thống kê của Savills, tổng nguồn cung tương lai đạt khoảng 63.900 căn từ 109 dự án, phân bố chủ yếu tại các khu vực Hà Đông và Từ Liêm, cung cấp khoảng 31.000 căn, chiếm 49% tổng nguồn cung tương lai.

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

"Sóng" đầu cơ USD

NHNN khẳng định tỷ giá năm 2013 sẽ tăng không quá 3%. Nhưng những diễn biến gần đây cho thấy, nếu không “mạnh tay” dẹp tình trạng đầu cơ USD của một số ngân hàng thì mục tiêu trên sẽ rất khó khăn.

“Đô” chợ đen tăng mạnh
Áp lực của tỷ giá ngày càng thể hiện rõ khi trong những ngày qua hầu hết các ngân hàng đều tăng giá mua bán USD kịch trần cho phép. Hiện tại với biên độ +/- 1%, các ngân hàng thương mại (NHTM) được niêm yết tỷ giá sàn là 20.826 đồng/USD và trần 21.246 đồng/USD.
Ngày 8.7, giá mua - bán USD của Vietcombank ở mức 21.230 đồng - 21.246 đồng; Eximbank ở mức 21.220 đồng và 21.246 đồng/USD…. Trong khoảng 10 ngày trở lại đây, giá USD liên tiếp được các NH niêm yết giá kịch trần biên độ cho phép. Trên thị trường chợ đen, giá ngoại tệ này mỗi này một nóng, giá USD ngày 8.7 tăng từ 50 - 100 đồng/USD so với cuối tuần qua. Tại một số điểm giao dịch ngoại tệ tự do tại Hà Nội báo giá USD ở mức 21.740 - 21.750 đồng (mua vào) và 21.810 - 21.820 đồng (bán ra). Còn tại TP.HCM, giá USD tự do ở khoảng 21.820 - 21.850 đồng/USD, một số điểm đẩy giá lên cao 22.000 đồng/USD.
Lý giải tỷ giá tăng nóng, trưởng phòng ngoại hối một NH cho biết, do nguồn cung USD không có nên giá đã bị đẩy lên. Bên cạnh đó, trước đây khi lãi suất tiền đồng ở mức cao, nhiều NH bán USD lấy tiền đồng cho doanh nghiệp (DN) vay hưởng lợi. Nay họ thực hiện mua lại nên nhu cầu ngoại tệ tăng lên. TGĐ một NHTM cổ phần thì dự báo, cầu ngoại tệ càng tăng ở nửa cuối năm khi toàn hệ thống phải nỗ lực đạt mức tăng trưởng tín dụng 12%, bình quân khoảng 1%/tháng. Kéo theo các DN phải dùng ngoại tệ để nhập khẩu nguyên, nhiên liệu dùng cho sản xuất kinh doanh. Nắm bắt được xu hướng này, nhiều nhà băng lớn đã nâng giá bán USD trên thị trường ngoại hối liên NH, kể cả giá giao ngay và có kỳ hạn.
Còn theo một chuyên gia kinh tế, các NH lớn tạo "sóng" tỷ giá, các NH nhỏ dù biết, nhưng cũng phải cắn răng mua vào ngoại tệ để cải thiện hơn trạng thái ngoại hối, sẵn sàng phục vụ khách hàng ruột của mình trong thời gian sắp tới. Đây là nguyên nhân chính lý giải vì sao các NH cổ phần lớn, nhỏ cũng phải áp giá mua bán USD kịch trần. Có lẽ nắm bắt được nhu cầu đầu cơ USD từ khối NH mà những phiên gần đây NHNN gần như không bán USD. Điều này đã thúc đẩy giá USD trên thị trường liên NH và tự do tăng chóng mặt.
Chuyên gia kinh tế này cũng nhận định, một lý do nữa là thời gian qua NHNN đã “bơm” hơn 1 triệu lượng vàng qua đấu thầu. Với mức giá bình quân khoảng 38 triệu đồng/lượng, và tỷ giá bằng tỷ giá liên NH trước đó tức 20.828 đồng/USD thì đơn vị này phải dùng hơn 1,8 tỉ USD để nhập khẩu vàng. Trong khi mức chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới bị kéo xa, lên tới 6 triệu - 7 triệu đồng/lượng khiến giới nắm giữ USD không “cam lòng”, đẩy giá USD tăng tính theo giờ nhằm chia sẻ lợi nhuận từ vàng.
Áp lực cục bộ
Sau hơn 1 năm rưỡi giữ đồng nội tệ ổn định so với USD, ngày 28.6, NHNN đã phải điều chỉnh tỷ giá bình quân liên NH giữa VND và USD tăng thêm 1%, từ mức 20.828 đồng/USD lên 21.036 đồng/USD. Lý do chủ yếu cho đợt điều chỉnh này, theo NHNN nhằm phản ánh chính xác hơn cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, cũng như cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối.
Theo đánh giá của nguyên Thống đốc NHNN Cao Sĩ Kiêm, việc điều chỉnh tỷ giá 1% đợt vừa rồi chứng tỏ những áp lực từ thị trường ngoại hối là có thật, nhưng sau ngày điều chỉnh sự gia tăng áp lực lớn hơn, chứng tỏ mức điều chỉnh này chưa thể “triệt tiêu” được hành vi đầu cơ, cũng như thỏa mãn được nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận của những “nhà buôn” chuyên nghiệp là các ngân hàng lớn, chuyên kinh doanh ngoại tệ. Đặc biệt, một yếu tố cộng hưởng khác là việc dư dả, thừa ứ tiền đồng khiến nhiều NHTM cũng đã quay sang dùng tiền đồng mua ngoại tệ kinh doanh.
Theo Phó thống đốc NHNN Nguyễn Đồng Tiến, trong thời gian qua nhờ giữ được sự ổn định tỷ giá, NHNN đã mua vào khoảng 5 tỉ USD để tăng dự trữ ngoại hối, và dự báo trong 2013 cán cân thanh toán tổng thể vẫn tiếp tục thặng dư khoảng 4-5 tỉ USD. Rõ ràng, nhìn vào các con số trên có thể thấy NHNN vẫn có thể đảm bảo ổn định cân đối được cung - cầu ngoại tệ.
Vấn đề còn lại nếu không mạnh tay “dẹp” nạn đầu cơ, làm giá USD, để các NH chạy theo lợi nhuận cục bộ gây áp lực lên tỷ giá như nói trên có thể buộc nhà quản lý phải hút tiền đồng về. Khi các NHTM không còn dư dả thanh khoản thì mục tiêu giảm lãi suất, hỗ trợ khó khăn cho các DN, nền kinh tế càng trở nên xa vời.
Theo Anh Vũ - Thanh Xuân
Thanh niên

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

Thống đốc Bình đã quá tự tin

Tròng vòng 1 năm trở lại đây từ khi ra nghị định 24 về quản lý vàng thì thống đốc Nguyễn Văn Bình luôn coi việc tỷ giá ổn định là một chiến tích. Nếu so sánh với năm 2010 - 2011 thì đúng là như vậy nhưng nếu xét về hoàn cảnh diễn biến tỷ giá năm 2012 và đầu năm 2013 thì điều đó gần như là tất yếu bởi một khi lãi xuất huy động VND lên đến 20-21% và lãi xuất đối với đồng USD chỉ là 2% thì đồng USD không tăng giá được là dễ hiểu, thêm vào đó trong năm 2012 - 2013 do lực sản xuất nội địa quá yếu dẫn đến tình trạng chúng ta chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu thì làm gì có cơ hội cho đồng usd tăng giá. Nhưng đến ngày hôm nay 6-7-2013 tỷ giá đã lên tới 21750 đồng/ usd và tôi chắc cứ đà này thì nó sẽ nhanh chóng cán đích 22000 đồng/ usd vì sao như vậy có 3  yếu tố. Thứ nhất là khoảng cách chênh lệch giữa lãi xuất giữa tiền đồng và usd đã xuống gần sát nhau chỉ còn khoảng 4- 5 %, với mức này thì rất nhiều người dân sẽ chuyển sang đồng usd. Thứ hai là nhập khẩu đã có dấu hiệu tăng và 6 tháng đầu năm chúng ta đã nhập siêu là 1.4 tỷ usd thay vì xuất siêu như năm 2012. Thứ ba là giá vàng việt nam chênh lệch khá lớn so với thế giới dẫn đến tình trạng giới buôn vàng gom đô để nhập lậu vàng

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Khi Nào Tiền Mới Chẩy

Nhiều người than với tôi sao dạo này khó kiếm tiền quá, còn mấy anh ngân hàng lại nới với tôi dạo này ngân hàng có thừa tiền mà không cho vay ra được. Thực ra mọi việc đơn giản thôi là hiện tại việt nam đang rơi vào tình trạng đóng băng tín dụng nghĩa là tiền không chẩy vào được nên kinh tế , vì sao vậy. Trước tiên chúng ta hãy xem lại quá khứ và hiện tại xem có gì khác nhau không.đầu năm 2012 lãi suất cho vay lên tới 25% , trước tình cảnh đổ vỡ hàng loạt chính phủ đã cấp tập hạ lãi suất huy động từ 14% về 8 % vào cuối năm và khi đó tín dụng đã từ mức tăng trưởng 0% trong 6 tháng đầu năm đã tăng 8.91 % khi kết thúc năm ( tính cả trái phiếu chính phủ ).còn năm nay thì sao NHNN đã kéo lãi suất từ 8% về 7% và dự địa giảm lãi suất đã hết, thì chúng ta có thể thấy mức độ là không đáng kể và sẽ chẳng có hi vọng gì cho việc đẩy tín dụng ra thị trường. Lãi suất giờ đây không còn là cây đữa thần nữa rồi, vậy làm sao để đẩy tín dụng được . Đó chính là vấn đề mà người ta cãi nhau cả mấy năm mà vần chưa ngã ngũ đó là nợ xấu, không chỉ với Việt Nam nợ xấu trở thành nỗi kinh hoàng với bất kỳ nên kinh tế nào. Nhìn vào hoàn cảnh hiện tại thì chúng ta hoàn toàn có thể tự mình giải quyết nợ xấu, nhưng nếu làm đúng theo sách vở để giải quyết nợ xấu thì nó sẽ đụng chạm đến lợi ích của các nhóm lợi ích đã và đang làm khuynh đảo chính trường việt nam. Khi mà các nhóm lợi ích vẫn chưa thỏa thuận xong phần hơn thiệt khi tiến hành tái cơ cấu kinh tế, thì chừng đó những đề án tái cơ cấu sẽ vẫn chỉ nằm trên bàn và tiền sẽ vẫn không thể chẩy được.