Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Ai tạo ra các đại gia đỏ ở Nga?

Ai tạo ra các đại gia đỏ ở Nga?
Tác Giả : Ngô Nhân Dụng
Kinh nghiệm cải tổ kinh tế ở các nước cộng sản cũ cho thấy ngay các chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, ở Việt Nam gọi là cổ phần hóa, cũng có thể bị các đảng viên cao cấp lợi dụng làm giàu bất công. Các lãnh tụ cộng sản ở nước ta chắc đã chăm chỉ học tập kinh nghiệm Liên Xô, ngày còn chế độ đó cũng như sau khi chế độ sụp đổ. 
Từ năm 1991 đến nay, Cộng Sản Việt Nam cố tình trì hoãn tiến trình thay đổi kinh tế cũng vì rút kinh nghiệm của nước Nga sau khi chế độ cộng sản tàn. Bài học chính mà họ đang thi hành là: Trì hoãn việc cải tổ càng lâu thì họ càng có lợi, trên con đường thu góp của cải. Nhưng ai cũng biết, người ta không thể nào trì hoãn được lịch sử mãi mãi, thế nào cũng có lúc phải bước đi thêm bước mới. Cho nên, đến lúc nào mà đảng Cộng Sản Việt Nam chuyển hướng, thi hành lại chương trình gọi là cổ phần hóa của họ, người dân cũng phải theo dõi kỹ để xem họ có tái diễn những trò biến của công thành tài sản tư như đã xảy ra ở nước Nga trong thời kỳ chuyển tiếp hay không.
Giai cấp “đại gia đỏ” nổi tiếng ở Nga đã thành hình qua chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Người ta thường hiểu lầm rằng ông Boris Yeltsin, tổng thống Nga lúc đó, chịu trách nhiệm về hiện tượng này, và cũng hiểu lầm rằng các chương trình tư nhân hóa đều có thể gây ra nạn tập trung tài sản vào một thiểu số tư nhân, là các đại gia đỏ. Sự thật không đơn giản như vậy. Sự thật là Boris Yeltsin đã bị giai cấp các đảng viên cộng sản nắm ưu quyền thúc đẩy và thao túng, lái cả chương trình tư nhân hóa sang một con đường mà chính họ có thể lợi dụng làm giàu cho chính họ và những tư nhân khôn ngoan biết cộng tác với họ. Cần phải rút kinh nghiệm những thất bại của Yeltsin, vì chính giai đoạn chuyển tiếp đó đã gây ra tình trạng nước Nga bị giai cấp các đại gia đỏ chiếm đoạt và thao túng.
Boris Yeltsin gây nên sự nghiệp trong lòng guồng máy cộng sản, leo lên đến vai trò một ủy viên trong Bộ Chính Trị. Kinh nghiệm chính trị cả đời ông là do guồng máy đó cung cấp, ông ta không biết và cũng không hiểu thế nào là thể chế tự do dân chủ, với những định chế ràng buộc lẫn nhau. Cho nên, khi lên đến đỉnh cao danh vọng sau khi dẹp tan được cuộc đảo chính năm 1991, ông vẫn hành động như một lãnh tụ cộng sản đích thực, do đó đã tự đưa mình vào một cái bẫy mà sau này ông cũng ân hận, thú nhận rằng mình đã bỏ lỡ mất cơ hội.
Vào năm 1991, nếu biết nắm lấy cơ hội thì Yeltsin đã phải giải tán Quốc Hội Nga và những cơ cấu do Quốc Hội đó dựng lên. Ông có thể đứng ra làm thủ lãnh một đảng chính trị, trong lúc phong trào Dân Chủ Nga, một tập hợp của nhiều nhóm có khuynh hướng tự do dân chủ sẵn sàng coi ông là người đứng đầu. Ông có thể tổ chức bầu cử, trong đó thế nào phe đảng của ông cũng chiếm đa số. Ông có thể soạn một Hiến Pháp mới theo mẫu các quốc gia dân chủ tự do đã hoạt động từ vài thế kỷ trước. Chế độ tự do dân chủ dựa trên các luật chơi, mà đảng chính trị đóng vai các cầu thủ. Mỗi đảng chính trị là tập hợp của những nhóm dân chúng có quyền lợi khác nhau, có khi xung đột với nhau. Các đảng chính trị phải đại diện cho các nhóm lợi ích mà họ tập hợp lại, dùng cơ chế bầu cử và tổ chức Quốc Hội làm nơi tranh đấu và thỏa hiệp với nhau. Không có các đảng chính trị thì không thể có sinh hoạt dân chủ.
Boris Yeltsin đã không thành lập đảng, không tổ chức bầu cử để có một Quốc Hội mới, viết bản Hiến Pháp mới. Vì bản chất ông vẫn là một ủy viên Bộ Chính Trị, không có chút kinh nghiệm nào về thể chế dân chủ. Một lãnh tụ cộng sản như ông tin tưởng rằng quyền hành nằm trong tay cá nhân người lãnh tụ. Với uy thế của ông lúc đó, mới được dân Nga bầu lên với số phiếu lớn vào Tháng Sáu năm 1991, mới dẹp tan được cuộc đảo chính vào Tháng Tám, đã dẹp Gorbachev ra bên lề sau khi tách nước Nga ra khỏi Liên Bang Xô Viết và xóa bỏ đảng cộng sản, Yeltsin tin là với uy thế đó ông có thể thi hành bất cứ chính sách hoặc chương trình nào cũng được. Yeltsin tự coi mình đứng trên các đảng phái chính trị, có thể nói là coi thường các đảng phái. Các nhóm tranh đấu cho dân chủ không thể tập hợp lại, trong khi các đảng viên cộng sản cao cấp và trung cấp vẫn còn giữ mối liên lạc mật thiết với nhau vì cùng chia sẻ các quyền lợi chính trị và kinh tế.
Cái bẫy giăng trên đầu Yeltsin, sẵn sàng chụp xuống, là nước Nga lúc đó vẫn còn phải sử dụng một bản Hiến Pháp thời cộng sản. Hơn nữa, bên cạnh ông còn có những định chế như Quốc Hội và Xô Viết Tối Cao, được bầu lên từ năm 1990, khi vẫn còn chế độ cộng sản. Cuộc bầu cử vào Tháng Ba năm 1989 vẫn theo Hiến Pháp thời cộng sản: Ðảng cử, dân bầu. Chỉ những người được đảng cộng sản hoặc các tổ chức phụ thuộc của họ mới được ứng cử. Quốc Hội đó lại bầu lên một Xô Viết tối cao, có quyền hành lớn nhất. Chính Yeltsin không được bầu vào Xô Viết Tối Cao này; cho đến khi một người tự ý rút lui để nhường chỗ, giữ thể diện cho ông. Ðến đầu năm 1990, Quốc Hội Nga mới bỏ phiếu xóa bỏ điều 6 trong Hiến Pháp, chấm dứt độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng trong cuộc bầu cử Quốc Hội nước Nga sau đó, vào Tháng Ba năm 1990, đại đa số các ứng cử viên vẫn là các đảng viên cộng sản. Chính cái Quốc Hội này tập trung giới “quý tộc đỏ,” thường gọi là monenclatura, bao gồm các đảng viên cao cấp và trung cấp, giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, đủ mặt những người đang cầm đầu guồng máy cai trị cũng như kinh tế, và đang lo sẽ mất các quyền lợi đó.
Vì vậy, nền chính trị nước Nga diễn ra một cuộc tranh giành quyền hành giữa Yeltsin và Ruslan Khasbulatov, chủ tịch Xô Viết Tối Cao. Ðiều 107 trong bản Hiến Pháp năm 1977 trao cho Xô Viết Tối Cao quyền kiểm soát hành pháp và quyền thay đổi Hiến Pháp. Dựa trên bản Hiến Pháp thời cộng sản, Khasbulatov giải thích rằng Xô Viết Tối Cao nắm quyền lãnh đạo cao nhất trong khi Yeltsin nghĩ rằng mình là tổng thống do dân trực tiếp bầu lên mới nắm quyền! Lúc đầu Khasbulatov tìm cách cộng tác với Yeltsin. Chương trình cải tổ kinh tế của Gaidar được Quốc Hội Nga bỏ phiếu chấp thuận với tỷ số 876/16 vào Tháng Mười năm 1991. Một tháng sau, Quốc Hội trao toàn quyền cho Yeltsin được cai trị bằng sắc lệnh, để cải tổ kinh tế.
Sau khi đã dọ sức và thử thách Yeltsin trong mấy tháng cuối cùng năm 1991, Khasbulatov và các đồng chí quý tộc đỏ thấy họ có thể lấn dần ông tổng thống. Nhân danh Xô Viết Tối Cao, Khasbulatov ra lệnh cho các bộ và cơ quan chính phủ, cho thống đốc Ngân Hàng Trung Ương, và chính ông ký các sắc lệnh có giá trị như luật lệ. Sáu tháng sau khi đã ủng hộ chương trình cải tổ kinh tế của Gaidar, chính Quốc Hội Nga lại bỏ phiếu xóa bỏ chương trình đó, với tỷ lệ 632/231! Trong năm 1992 Khasbulatov đã ban hành 66 mệnh lệnh cho bộ máy nhà nước, rồi trong sáu tháng đầu năm 1993, ông ban ra 630 mệnh lệnh nữa.
Tất cả các mệnh lệnh đó phản ảnh quyền lợi của các cựu đảng viên cộng sản, thuộc giới quý tộc đỏ, và thường trái ngược với các chính sách của đám cố vấn thân cận của Yeltsin; những người có chủ trương cải tổ kinh tế nhanh chóng và toàn diện. Sau khi chương trình cải tổ của Gaidar bị xóa bỏ, Yeltsin phải nhượng bộ, thương thuyết với giới quý tộc đỏ trong Quốc Hội Nga để đưa ra những chính sách phù hợp với quyền lợi của họ; từ đó cả chương trình thay đổi kinh tế nước Nga là do nhóm này quyết định. Ảnh hưởng mạnh nhất, và hậu quả tai hại lâu dài nhất, là họ lái cả chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, để cho các vị quản đốc đương nắm quyền, các thân nhân và các mưu sĩ cố vấn của họ tha hồ chiếm đoạt các xí nghiệp quốc doanh, biến của công thành của riêng.
Chính Khasbulatov còn lo bảo vệ an ninh cá nhân của mình bằng cách tuyển mộ năm ngàn người vào đạo quân bảo vệ Quốc Hội!
Cuộc tranh chấp giữa Yeltsin và Khasbulatov không thể nào giải quyết được, cuối cùng chính Yeltsin phải quyết định “đảo chính,” đưa quân đến vây tòa nhà quốc hội và giải tán Quốc Hội. Ông soạn một bản Hiến Pháp mới vạch rõ giới hạn giữa quyền hành pháp và lập pháp, cố ý dành nhiều quyền hành cho ngôi vị tổng thống. Sau khi Yeltsin “truyền ngôi” cho Vladimir Putin, đến lượt Putin được hưởng những quyền hành rộng rãi, càng ngày càng độc tài hơn.
Vladimir Putin thực ra không xóa bỏ giai cấp đại gia đỏ đã thành hình qua chương trình tư nhân hóa dưới thời Yeltsin, mặc dù ông đã bỏ tù một số và lưu đày một số khác. Putin chỉ thay đổi các khuôn mặt cá nhân nằm trong đám đại gia đỏ. Những người tuân theo lệnh ông vẫn được sử dụng như cũ. Những người không chịu nghe lệnh ông thì bị chèn ép rồi đưa ra tòa, hoặc chạy trốn. Tài sản của đám người này được chuyển sang cho những tay chân của Putin. Chế độ cộng sản ở nước Nga đã biến thành một chế độ tư bản nhà nước, do một thiểu số các đại gia tay chân của một nhà độc tài nắm hầu hết quyền hành và lợi lộc. Ðây là một bài học cho các nước sẽ thay đổi từ độc tài sang dân chủ.

'Trần lãi suất tiết kiệm giảm về 7%'

Một loạt lãi suất huy động, cho vay tiền đồng và đôla Mỹ có thể được điều chỉnh giảm sớm nhất vào ngày mai, theo Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến.
Ngoài kế hoạch giảm 0,5% trần lãi suất tiết kiệm tiền đồng thay vì mức 7,5% hiện nay, Ngân hàng Nhà nước có thể dỡ bỏ trần lãi suất huy động trên 6 tháng. Ngoài ra, nhà điều hành dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động USD.
lai-suat3-aq490.jpg
Trần lãi suất huy động tiền đồng kỳ hạn 12 tháng trở xuống hiện là 7,5% một năm, có thể sớm giảm về 7%. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ dỡ trần lãi suất với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Ảnh: Anh Quân
Thông tin này được ông Tiến công bố tại Hội nghị giao ban trực tuyến 6 tháng đầu năm của Chính phủ với các địa phương đang diễn ra. 
Theo ông Tiến, lý do cho lần điều chỉnh này là khả năng kiểm soát lạm phát và dư địa sử dụng công cụ lãi suất. 
"Thống đốc đang chủ trì cuộc họp với cơ quan chức năng và trong thời gian tới, hoặc ngay ngày mai, lãi suất cho vay với 5 lĩnh vực ưu tiên sẽ giảm từ 10% xuống 9% một năm. Còn lãi suất huy động có thể sẽ có điều chỉnh nhất định, dưới một năm là 7,5% có thể giảm về 7% và có thể không quy định trần với tiền gửi trên 6 tháng", ông nói thêm.
Ngoài ra, trong bối cảnh người dân có xu hướng dịch chuyển tiết kiệm từ tiền đồng sang USD, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ cân nhắc điều chỉnh một bước tiền gửi ngoại tệ, lãi suất tiền gửi dân cư từ 2% có thể giảm xuống mức thấp hơn, tiền gửi tổ chức kinh tế cũng có thể giảm. Tại hội nghị tổng kết ngành ngân hàng hôm 17/6, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng cho biết dự kiến sẽ giảm thêm lãi suất huy động USD để củng cố niềm tin của người dân vào VND.
bieu-do-laisuat-xin.jpg
Diễn biến trần lãi suất huy động từ tháng 8/2011 đến nay. (*): Dự kiến.
"Nhưng gần như đây là giới hạn điều chỉnh cuối cùng, vì lạm phát khoảng 7% trong khi lãi suất đã giảm về 7%. Có giảm nữa hay không còn phụ thuộc nhiều vào việc kiểm soát lạm phát", Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến nói tại Hội nghị Chính phủ.
Theo ông, giảm mạnh lãi suất cho vay khiến thu nhập của tổ chức tín dụng bị ảnh hưởng đáng kể, nhiều đơn vị không còn lãi. Chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra nếu chưa thực hiện dự phòng chỉ còn 3%, trong khi đã thực hiện dự phòng chỉ 1,93%, theo Phó thống đốc.
Dự kiến chiều nay Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố chính thức về kế hoạch điều chỉnh lãi suất.
Đây là lần điều chỉnh lãi suất huy động thứ 7 của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm 2012, từ mốc 14% một năm. Mặt bằng lãi suất cho vay kể từ đó tới nay cũng giảm đáng kể. Lãi suất đến nay vẫn được xem là một trong những công cụ chính được Ngân hàng Nhà nước sử dụng để kỳ vọng khơi thông tín dụng cho nền kinh tế. Đến 20/6, tín dụng toàn nền kinh tế tăng trưởng 3,31%.
Cũng tại Hội nghị giao ban trực tuyến này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước về quản lý thị trường vàng. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu đúng hạn 30/6, các ngân hàng phải tất toán tài khoản và không gia hạn cho bất kỳ ngân hàng nào. Trước yêu cầu này, Phó Thống đốc cho biết đang theo dõi hàng ngày để thực hiện đúng lộ trình.
Huyền Thư - Thanh Lan

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Vàng rớt giá, nhưng chi phí sản xuất thực là bao nhiêu?

Việc vàng rơi giá mạnh khỏi ngưỡng $1400/ounce trung tuần tháng 4 khiến nhiều người mãi đi tìm nguyên do. Nhưng khi xem xét chi phí sản xuất 1 ounce vàng, cụ thể ở tập đoàn Barrick (Barrick Gold Corporation), công ty sản xuất vàng lớn nhất thế giới hiện nay, hẳn nhiều người trong chúng ta không khỏi sốc khi biết giá thành 1 ounce vàng.
Khi xem xét các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Barrick, biểu đồ dưới đây cho thấy xu hướng chi phí sản xuất 1 ounce vàng thay đổi qua các năm như sau:
 
Với:
1. Spot price: giá giao ngay trung bình của vàng ở năm trước đó.
2. Cash cost: chi phí tiền mặt sản xuất 1 ounce vàng, tính ở mức trung bình cho toàn năm đó. Cần lưu ý rằng chi phí sản xuất có thể thay đổi theo các năm theo giá vàng, do người sản xuất sẵn sàng chi mạnh hay cắt giảm chi phí tùy tình hình thị trường một cách linh hoạt.
Ví dụ: Một công ty khai thác mỏ có nhiều loại quặng khác nhau để khai thác. Những loại quặng cao cấp chứa hàm lượng vàng trên một tấn khai thác hơn các loại quặng cấp thấp. Mục đích quản trị trong dài hạn ở các công ty khai thác mỏ là làm sao duy trì tính hiệu quả sản xuất và lợi nhuận trong vòng đời sản xuất. Khi giá vàng thấp, các công ty sẽ ưu tiên khai thác các mỏ có quặng cho trữ lượng vàng cao hơn, để bù đắp cho chi phí hoạt động kinh doanh, mà vẫn tạo ra lợi nhuận. Khi giá vàng tăng, các công ty sẽ khai thác các quặng có hàm lượng vàng thấp hơn mà vẫn có lợi nhuận.
3.  Gross Cash Margin: Tỷ lệ giữa giá thành sản xuất và giá bán 1 ounce vàng trong năm.
Dưới đây là những con số thú vị:
  1. Gross Cash Margin: giai đoạn trước năm 2009 trung bình là 48%. Thử tưởng tượng 1 ounce vàng giao dịch ở mức 36 triệu đồng, chi phí sản xuất sản xuất của nó chỉ ở mức xấp xỉ hơn 17 triệu đồng.
  2.  
  3. Chi phí sản xuất tăng mạnh đến 25% từ năm 2011 sang năm 2012. Đây là năm kinh tế có những dấu hiệu hồi phục, vì thế mọi người tự tin giá vàng sẽ tăng lên, do đó, cả Barrick ở góc độ nhà sản xuất cũng sẵn sàng chi mạnh tay hơn cho chi phí sản xuất (chi phí nhân công tăng lên).
  4.  
  5. Trừ khi giá vàng xuống ở mức $400/ounce, các công ty sản xuất vàng như Barrick mới ngừng sản xuất vì lỗ. Nhưng ngày đó còn rất xa, khi tương quan cung cầu sẽ không để trường hợp đó xảy ra.
  6.  
  7. Hiện giá vàng đang giao dịch ở mức $1460.5/ounce, xấp xỉ 36,7 triệu đồng/cây. Giá vàng trong nước hiện đang giao dịch cao hơn giá vàng thế giới 6 triệu đồng/cây (42,7 triệu đồng/cây) trong ngày giao dịch hôm nay, 26 tháng 4.
  8.  
Theo: Alpine Advisor – Seeking Alpha

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Ghi chép - 3 (chuyện tăng trưởng tín dụng)

Ngân hàng Nhà nước đang cố gắng tìm mọi cách để các ngân hàng cho vay nhiều thêm, mức thêm cố gắng chừng 12% so với năm ngoái, bởi phải tăng dự nợ tín dụng tối thiểu ở mức này thì GDP mới tăng như dự tính. Nhưng thay vì thúc giục các ngân hàng thương mại, tại sao không thử hỏi các doanh nghiệp, là nơi đi vay tiền, vì sao họ không thèm vay thêm nữa.
Khác với suy nghĩ bình thường, lãi suất cao nhưng đi kèm lạm phát cao thì không làm doanh nghiệp lo ngại. Đầu năm họ vay một khoản tiền mua nguyên vật liệu về để sản xuất, giá chừng đó; giữa năm bán hàng (giá đã lên) thu tiền về. Vì tình hình lạm phát, hàng bán ra sẽ có giá cao hơn dự tính, dư sức chịu lãi suất cao mà vẫn còn có lãi.
Cái thời điểm khó khăn nhất của doanh nghiệp là giai đoạn chuyển đổi, từ lạm phát cao sang chững lại và giảm xuống. Lúc đó lãi suất cao mới là gánh nặng vì đội giá thành trong khi giá bán không tăng được nữa. Đó chính là giai đoạn hiện nay nên doanh nghiệp không vay, không mở rộng sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra những doanh nghiệp còn làm ăn được, cũng đang tìm những nguồn vốn khác chứ không chịu vay ngân hàng nữa. Làm ăn được hiện nay chỉ có những ngành liên quan đến xuất khẩu và nông nghiệp. Cả hai đều đang tận dụng khả năng chiếm dụng vốn (hoặc của nông dân, hoặc của khách hàng bằng nguyên vật liệu) nên cũng không đụng tới tín dụng ngân hàng.
Nhiều doanh nghiệp chọn con đường bán bớt cổ phần cho nước ngoài, tiền cũng rót vào kinh doanh, không qua tín dụng ngân hàng. Kiều hối những năm trước chảy vào địa ốc, nay địa ốc đóng băng, tiền sẽ chảy vào sản xuất, kinh doanh – chảy trực tiếp, không qua tín dụng ngân hàng.
Chính vì vậy trong năm 2012, tổng phương tiện thanh toán tăng 22,38% mà tín dụng chỉ tăng 8,91%; Đến cuối tháng 5/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 5,46% mà tín dụng chỉ tăng 2,98%. Nói tóm lại, vẫn có tiền để duy trì mức tăng GDP như dự kiến, chỉ có điều một phần tiền này nó không chảy qua kênh tín dụng của ngân hàng (nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam chiếm đến 30%).
Về phía ngân hàng, tín dụng không tăng nhiều khi là điều hay. Mấy năm trước có lúc huy động được 100 đồng, họ lại cho vay lên đến 116 đồng! Nay tỷ lệ này giảm còn 95% nhưng phải xuống nữa, chừng 80% mới phù hợp và 70% mới an toàn. Chứ cứ như mấy ngân hàng làm liều, vay tiền ngân hàng khác để cho vay thì sẽ sớm sụp tiệm.
*                      *                      *
Trước đó, các báo chạy tít “Mỗi tháng bơm thêm 40.000 tỷ đồng”; hay “Bơm 40.000 tỷ đồng tín dụng vào nền kinh tế mỗi tháng”… là sai rồi. Viết như thế nhiều người sẽ hiểu nhầm Chính phủ sẽ bơm một lượng tiền khổng lồ, 40.000 tỷ đồng/tháng, vào nền kinh tế. Tiền ở đâu mà “bơm” như thế?
Thật ra, tại Quốc hội, ông Nguyễn Xuân Phúc (Phó Thủ tướng) nói “…tất cả các tháng còn lại mỗi tháng chúng ta phải giải ngân được 40 nghìn tỷ/ tháng” để tín dụng cả năm tăng 12%. Chữ chúng ta ở đây phải hiểu là hệ thống ngân hàng.
Tín dụng tăng hay không là do ngân hàng (người cho vay), doanh nghiệp (người đi vay); còn chính phủ chỉ đóng vai trò thúc đẩy.
Những năm trước tín dụng tăng kỷ lục, có năm tăng trên 50%, chủ yếu đổ vào bất động sản và những ngành nghề liên quan. Nay bất động sản không hút tiền vì đang đóng băng thì tín dụng làm sao tăng được.
Giả thử năm ngoái bạn cho vay 100 đồng, muốn tăng 12% tức năm nay phải cho vay 112 đồng. Nhưng nay người vay cũ trả nợ và không vay nữa, tức duy trì 100 đồng đã khó, làm sao nghĩ đến chuyện cho vay 112 đồng. Ngân hàng cũng vậy, nợ cũ tăng nhanh, nay xẹp cũng nhanh, có cái thành nợ xấu, có cái người nào giỏi trả được nợ thì đâu dám vay nữa nên duy trì tín dụng ở mức bằng năm ngoái là đã giỏi lắm (chỉ sợ nó co hẹp lại, tăng trưởng âm nữa kìa) nói gì đến tăng trưởng. Cho nên trông chờ ngân hàng giải ngân mỗi tháng 40.000 tỷ đồng là chuyện khó, hầu như không thể thực hiện được.
Các nước cũng rơi vào tình trạng như thế nên cũng có chuyện bơm tiền ra. Và bơm hiểu theo nghĩa ngân hàng trung ương mua trái phiếu chính phủ (hay các tài sản tài chính) mà ngân hàng thương mại đang nắm giữ, đưa tiền cho ngân hàng để tiền chảy vào nền kinh tế. Thế mà ở Việt Nam đang làm ngược lại, ngân hàng thương mại bỏ tiền ra mua trái phiếu chính phủ! Và để cho khỏe Ngân hàng Nhà nước bèn tính khoản mua trái phiếu chính phủ đó cũng là tăng trưởng tín dụng!

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Nợ tư cao cũng đáng ngại không kém

Lâu nay người ta chỉ cảnh báo về mức độ nợ công đang tăng cao mà quên đi một thực tế: một mức nợ tư cao so với GDP cũng là một chỉ dấu đáng lo ngại không kém.
Nói nợ tư là để dễ hình dung khi so với nợ công chứ khái niệm chính xác ở đây là tổng dư nợ tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam mà theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) là tương đương 125% GDP, một tỷ lệ thuộc loại cao nhất khu vực. Điều đáng nói là tỷ lệ này tăng rất nhanh trong những năm qua: từ 35%/GDP năm 2000 lên 71,2% năm 2006, 93,4%% năm 2007, 90,2% năm 2008, 112,7% năm 2009 và 125% năm 2010 (Nguồn: WB).
Cho đến nay vẫn chưa ai giải đáp thỏa đáng vì sao tỷ lệ này lại tăng nhanh trong mấy năm vừa qua. Có người cho rằng đó là do bong bóng bất động sản, giá đất tăng, tín dụng cho địa ốc tăng nên tổng tín dụng tăng theo. Có người cho rằng tỷ lệ này cao là do hoạt động tài trợ tín dụng cho xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh, hiện lên trên 150% GDP nên phần tín dụng hỗ trợ cho nó cũng tăng theo. Cũng có nguồn phân tích cho là vì số lượng các tổ chức tín dụng tăng nhanh, kéo theo mức tăng tổng tín dụng chung của nền kinh tế, nhất là tăng trưởng của Việt Nam trong những năm vừa qua chủ yếu dựa vào đầu tư. Và cũng có lẽ chính sách kích cầu, qua bù lỗ lãi suất trước đây cũng là lý do cho nợ tư tăng nhanh như vậy.
Nhưng một tỷ lệ tín dụng bằng 125% GDP cho thấy nhiều điều. Một là dư nợ tín dụng tăng không tương quan với mức tăng GDP, cần một lượng tăng tín dụng cao mới làm ra một mức tăng GDP nhất định (ví dụ, năm 2007 GDP tăng 8,6%, dư nợ tín dụng tăng đến 53,4%). Hai là các kênh tài trợ vốn cho nền kinh tế không phát huy hiệu quả. Trái phiếu doanh nghiệp không phát hành được bao nhiêu; thị trường chứng khoán cũng không phải là nơi doanh nghiệp trông cậy để tìm vốn. Tất cả đều trông chờ vào tín dụng ngân hàng và từ đó dễ rơi vào những rủi ro.
Rủi ro thứ nhất là nợ xấu của ngân hàng sẽ tăng nhanh do quy mô của tín dụng. Một phần trăm nợ xấu ở một nền kinh tế có tổng dư nợ tín dụng chỉ bằng 50% GDP sẽ khác với 1% nợ xấu của nền kinh tế mà tổng dư nợ tín dụng lên đến 125% GDP. Theo TS Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia cao cấp Liên hiệp quốc, điều đáng quan ngại là nợ xấu theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước đã tăng lên trên 3%; tuy nhiên do cách tính không hợp chuẩn quốc tế, các tổ chức quốc tế đã cho rằng tỷ lệ nợ xấu cao hơn 3% nhiều.
Thứ nữa, doanh nghiệp phụ thuộc vào nợ vay của ngân hàng nên một khi nền kinh tế rơi vào tình huống lãi suất ở mức cao như hiện nay, doanh nghiệp dễ rơi vào chỗ đình đốn, phá sản. Ngược lại, hệ thống ngân hàng phải chấp nhận cho “đảo nợ”, nhất là với các dự án bất động sản đang đóng băng như là giải pháp khả thi duy nhất.
Bức tranh nợ nần của các nước châu Âu hiện nay cũng cung cấp nhiều bài học mang tính thời sự, ông Việt nhận định. Trước đây người ta cũng chỉ chú tâm vào con số nợ công nhưng nay đã bắt đầu có nhiều phân tích cho thấy nguyên nhân sâu xa hơn của vấn đề nợ công bắt nguồn từ tỷ lệ tín dụng trên GDP quá cao. Trích dẫn một bài báo trên tờ New York Times, ông Việt đưa ra ví dụ về Ireland, vào năm 2007 là nước mẫu mực về nợ công – chỉ có 11% GDP. Thế nhưng khi khủng hoảng tài chính nổ ra vào năm 2008, Ireland trở thành một trong những nạn nhân đầu tiên và hiện đang lâm vào cảnh nợ nần ngập đầu. Nguyên do là vì nợ tư (nợ của các hộ gia đình và doanh nghiệp phi tài chính) lên đến 241% GDP, cao nhất trong khu vực.
Phần lớn các khoản nợ này liên quan đến sự bùng nổ giá bất động sản ở nước này và sự sụp đổ thị trường địa ốc sau đó. Lúc bất động sản lên ngôi, tín dụng tăng vọt, ngân hàng ăn nên làm ra. Khi bong bóng bất động sản nổ tung, ngân hàng rơi vào bờ vực phá sản, nhà nước phải ra tay cứu, chuyển nợ tư thành nợ công.
Tỷ lệ tổng tín dụng trên GDP cao đã là chỉ báo; chất lượng tín dụng còn là chỉ báo rõ hơn nữa nếu phần lớn tín dụng rơi vào bất động sản hay các lãnh vực khác không tạo ra doanh thu. Nếu không chú ý đến những chỉ báo này, vấn đề nợ tư và nợ công Việt Nam càng đáng báo động.

Kinh tế Việt Nam đi về đâu?

Kinh tế Việt Nam đi về đâu?
Nhìn sao cũng đúng
Nhiều người ắt hẳn rất ngạc nhiên khi thấy các chuyên gia kinh tế của các tổ chức kinh tế, tài chính thế giới, kể cả các ngân hàng khi phân tích tình hình kinh tế Việt Nam đều tỏ ra lạc quan theo kiểu mọi chuyện đang tiến triển tốt đẹp, không có gì phải lo lắng. Ngạc nhiên là bởi cùng lúc đó phản ánh từ giới kinh doanh trong nước là một bức tranh u ám, một tình hình bi đát của hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ doanh nghiệp lớn cho đến doanh nghiệp gia đình.
Thật ra hai nhận định này không mâu thuẫn nhau là mấy, cái khác biệt là góc nhìn, là cách lượng giá các con số và các xu hướng.
Ví dụ lạm phát, từ chỗ lên đến 18,6% năm 2011, năm nay lạm phát đã được kéo về dưới một con số (dự báo cả năm chừng 9,2%), ắt hẳn các chuyên gia kinh tế sẽ đánh giá đây là một thành tựu đáng kể. Và những biện pháp được áp dụng để kiềm chế lạm phát sẽ được coi là đúng đắn như nâng lãi suất lên cao, thắt chặt tín dụng. Cũng những cụm từ đó nhưng nhìn từ góc độ doanh nghiệp lại là những hòn đá tảng, đè nặng lên vai họ: lãi suất cao, tức chi phí tài chính cao làm họ kiệt quệ, thắt chặt tín dụng đồng nghĩa ít có cơ hội cho họ vay vốn làm ăn dễ dàng như những năm trước.
Ở đây, phải thừa nhận công luận đôi lúc đảo chiều một cách thiếu nhất quán. Những năm trước, khi tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao, có năm như năm 2007 tăng đến 51%, kéo theo lạm phát phi mã, dư luận ai nấy đều đòi hỏi phải siết lại việc cho vay dễ dãi của hệ thống ngân hàng. Nay tăng trưởng tín dụng thấp, chính là hệ quả của việc các ngân hàng thận trọng trở lại, từng bước giải quyết nợ xấu, các doanh nghiệp từng bước giải quyết việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá đáng, lại bị mọi người chỉ trích như một chỉ tiêu không đạt yêu cầu. Có lẽ việc công luận đảo chiều trong trường hợp này là do mức thay đổi quá lớn, tín dụng tính cho đến cuối tháng 11 chỉ tăng 4,15%.
Hay chuyện tính toán cán cân thương mại, lần đầu tiên trong nhiều năm Việt Nam xuất siêu thay vì nhập siêu (mới năm ngoái đây thôi, Việt Nam nhập siêu đến gần 10 tỷ đô-la), không thể không xem đây là một thành tích đáng kể. Báo cáo của các tổ chức tài chính nước ngoài đều tô đậm yếu tố này bởi nó góp phần quyết định trong việc ổn định tỷ giá. Nhưng đó là góc nhìn vĩ mô; nhìn từ doanh nghiệp thì thấy tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu là do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong nước hầu như không tăng xuất khẩu. Còn nhập khẩu không tăng mạnh như mọi năm đồng nghĩa doanh nghiệp bế tắc, không thể nhập nguyên vật liệu về để sản xuất hoặc không bán được hàng nên không dám nhập hàng nhiều như các năm trước.
Một yếu tố khác cũng nhận được sự đánh giá khác nhau giữa hai góc nhìn vĩ mô và vi mô là chuyện nợ xấu. Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam thì lạc quan tin rằng Việt Nam sẽ xử lý được vấn đề nợ xấu. Đó là bởi tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam, dù còn bất nhất nhưng cứ lấy theo tỷ lệ cao nhất là 10% trên tổng dư nợ tín dụng mà có lần Thống đốc Ngân hàng Nhà nước buộc miệng công bố trên diễn đàn Quốc hội thì vẫn còn rất thấp so với tỷ lệ này ở các nước lúc xảy ra khủng hoảng nợ xấu. Theo một nghiên cứu của McKinsey, sau cơn khủng hoảng tài chính năm 1997, nợ xấu của các nước châu Á tăng vọt, lên khoảng 30% GDP, ví dụ nợ xấu tính đến cuối năm 2001 của Trung Quốc là 44-55% GDP, của Malaysia là 36-48% GDP hay của Thái Lan là 36-41% GDP. So sánh như thế thì nợ xấu Việt Nam dù có lên đến 15% GDP vẫn có thể giải quyết được.
Thế nhưng nhận định này không tính đến hai chuyện. Thứ nhất, ngay sau khủng hoảng tài chính 1997, các nước nhảy vào quyết liệt giải quyết nợ xấu còn ở Việt Nam, bàn thì nhiều, phát biểu thì hăng say trong khi bắt tay vào giải quyết nợ xấu, cho đến giờ đề án tổ chức công ty mua bán nợ xấu vẫn chưa có! Thứ hai, vì chưa có hướng giải quyết triệt để, nợ xấu làm giới ngân hàng không muốn cho vay ra nữa, tiền chỉ đổ vào trái phiếu chính phủ và có lẽ sắp tới là trái phiếu chính quyền địa phương.  
Như thế nhìn từ góc độ vĩ mô, tình hình kinh tế Việt Nam, theo các tổ chức tài chính quốc tế, dường như đang đi vào thế dần ổn định, thời điểm khó khăn nhất đã qua và các nguy cơ nổ ra khủng hoảng cán cân thanh toán hay khủng hoảng tài chính đã được giải quyết.
Tuy thế, nhìn từ góc độ doanh nghiệp các rủi ro khác vẫn có khả năng xảy ra. Đó là sự vỡ nợ dây chuyền từ doanh nghiệp này lây lan sang doanh nghiệp khác rồi từ doanh nghiệp đến ngân hàng hay từ doanh nghiệp đến người lao động. Ví dụ người ta chỉ chú ý đến hai bên trong tranh chấp bảo lãnh phát hành trái phiếu giữa Công ty Tài chính Cổ phần Vinaconex - Viettel và ngân hàng SeABank mà quên đi nhân vật chính, Công ty Vina Megastar, nơi phát hành trái phiếu và nay không trả được nợ. Dự báo sẽ còn nhiều vụ như thế, nhất là các khoản nợ có liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước.
Đây là cái giá phải trả trong quá trình trở lại những giá trị kinh doanh căn bản chứ không chạy theo các loại bong bóng tài sản như trước. Tái cơ cấu một doanh nghiệp là đã tốn kém, huống gì phải tái cơ cấu cả nền kinh tế. Điều đáng băn khoăn là chi phí của quá trình này, nhất là khi liên quan đến khối doanh nghiệp nhà nước hay hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, lại đang được chia đều ra cho người dân ai cũng phải gánh. Dọn dẹp hậu quả của lòng tham thì lẽ ra thủ phạm chạy theo lòng tham phải gánh chịu trước tiên chứ không phải là người dân bình thường.

Vấn đề nằm ở dòng tiền!

Trước khi bàn chuyện giải cứu bất động sản, cần chẩn bệnh cho đúng tình thế khó khăn của khu vực này, nếu không các đề xuất giải cứu chỉ là chuyện viển vông.
Dòng tiền, chứ không phải là lời lỗ, mới là yếu tố quyết định trong nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp, dù ngồi trên đống tài sản khổng lồ, làm ăn vẫn đang có lãi nhưng gặp vấn đề với dòng tiền cũng có thể lâm vào cảnh phá sản về mặt kỹ thuật. Chuyện này càng đúng với ngành bất động sản.
Một doanh nghiệp có trong tay 30 tỷ đồng, vay ngân hàng thêm 70 tỷ đồng để làm một dự án xây căn hộ trị giá 100 tỷ đồng. Doanh nghiệp này trông chờ vào dòng tiền thu về khi bán các căn hộ, tính ra có thể bán được với giá 150 tỷ đồng để trả tiền cho ngân hàng, thu hồi vốn và lãi. Nay bỗng dưng thị trường căn hộ đóng băng, bán không ai mua, ắt dòng tiền bị thắt nghẽn, nợ vay ngân hàng thành nợ xấu, nguy cơ phá sản gần kề dù tài sản vẫn còn đó.
Bức tranh này, cũng là bức tranh tương tự của hiện tượng bong bóng bất động sản ở nhiều nước, đang là tình trạng phổ biến của nhiều doanh nghiệp bất động sản Việt Nam. Nhưng dòng tiền bất động sản ở Việt Nam có những đặc điểm khác các thị trường khác – và đây chính là nút thắt của thị trường.
Ở các nước, mỗi khi làm dự án bất động sản, người ta tính toán với dòng tiền dự tính thu về trong 20, 30 năm hay dài hơn nữa. Cho dù sau này chủ đầu tư bán dự án lại cho ngân hàng thì kỳ vọng về dòng tiền luôn gắn với một thời gian rất dài.
Ở Việt Nam, vào thời kỳ “người, người, nhà nhà” nhảy vào kinh doanh bất động sản, người ta xây dựng dự án rất lạc quan, rất ngắn hạn, vòng đời dự án ngắn, dựa trên lượng cung ảo, tỷ suất hoàn vốn nội bộ cao ngất; họ kỳ vọng vào một dòng tiền nóng hổi chảy nhanh về túi ngay sau khi hoàn thành dự án. Bởi thực tế lúc đó cho thấy kỳ vọng như thế không có gì quá đáng. Dự án còn trên giấy đã bán thu tiền. Nhà chỉ mới đổ xong móng, đã có hàng ngàn người chen nhau mua. Người mua hầu như là người đầu tư, mong tìm chênh lệch giá khi mua bất động sản nên mua bằng tiền của chính họ, mua trả hết chứ không có chuyện trả dần trong 20, 30 năm. Nay thị trường đóng băng, chênh lệch giá không còn, lập tức dòng tiền nóng này biến mất, chủ đầu tư lâm vào bế tắc ngay. Nếu họ xây dựng dự án với tầm nhìn 20, 30 năm chưa chắc đã khó khăn như hiện nay.
Chính vì đặc điểm này nên trước đây thị trường bất động sản Việt Nam sử dụng đòn bẩy tài chính với tỷ lệ cao – người ta liều lĩnh vay tiền và ngân hàng liều lĩnh cho vay làm dự án trong khi vốn của chủ đầu tư là không đáng kể bởi ai nấy đều nghĩ sẽ thu hồi vốn rất nhanh. Bong bóng vỡ, tiền không về nhanh như mong đợi trong khi lãi suất cao đang đè nặng thị trường và đồng thời đe dọa luôn sức khỏe của các ngân hàng thương mại.
Nhiều doanh nghiệp rót tiền từ lãnh vực kinh doanh chính của mình, có thể là chế biến thủy sản, đóng tàu, làm đồ gỗ… vì cứ nghĩ đẩy một dòng tiền ổn định, chắc chắn vào nơi sẽ tạo ra dòng tiền thu hồi nhanh, lãi cao gấp mấy lần là chuyện khôn ngoan. Nào ngờ, dòng tiền thu hồi nhanh không tồn tại mà dòng tiền ổn định của ngành nghề kinh doanh chính cũng bị ảnh hưởng theo.
Gom những yếu tố này lại, chúng ta thấy ngay đặc điểm nữa của thị trường bất động sản Việt Nam: đó là sự dắt đây, sự dính líu của thị trường đến nhiều khu vực khác của nền kinh tế. Dòng tiền bất động sản cạn kiệt làm ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều dòng tiền khác. Bất động sản từng là nguồn cơn của khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước như Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ. Ở Việt Nam bất động sản cũng đang và sẽ là ngòi nổ nhiều cơn chấn động khác. Trước tiên là các ngân hàng, liên quan trực tiếp khi cho vay kinh doanh bất động sản hay liên quan gián tiếp khi nhận tài sản thế chấp là bất động sản – tất cả thể hiện thành vấn nạn nợ xấu đang là gánh nặng cho cả nền kinh tế. Thứ đến là các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ngoài ngành, ở đây là vào bất động sản, với những khoản thiệt hại khổng lồ, khó giải quyết. Báo chí đang đăng tải những câu chuyện liên quan đến nút thắt dòng tiền bị nghẽn ở mọi nơi, mọi lãnh vực. Từ chuyện doanh nghiệp thủy sản vỡ nợ vì đổ vốn vào bất động sản đến chuyện ngân hàng phát mãi nhiều dạng nhà dưới giá thị trường; từ chuyện tồn kho các sản phẩm liên quan đến xây dựng đến doanh nghiệp nợ nần lẫn nhau vì bất động sản.
Nếu không giải quyết dòng tiền cho bất động sản, chính ngân sách nhà nước cũng sẽ khó khăn. Ví dụ thu tiền sử dụng đất năm 2011 lên đến trên 50.000 tỷ đồng trong khi 9 tháng đầu năm 2012, khoản thu này chỉ còn 23.000 tỷ đồng. Ngân sách nhiều địa phương trông chờ vào khoản thu tiền sử dụng đất này, nay không có để thu thì mất cân đối ngân sách đương nhiên sẽ xảy ra.
Trong bối cảnh đó, chúng ta sẽ thấy ngay sự phi lý của nhiều đề xuất giải cứu bất động sản. Ví dụ có nơi đề nghị nhà nước bỏ ra vài ngàn tỷ đồng để cấp bù lãi suất cho người mua nhà. Ngân sách đang cạn kiệt lại trông chờ tiền bù lãi suất từ két sắt nhà nước! Càng phi lý hơn với đề xuất địa phương bỏ tiền ra mua nhà, sau này bán lại cho dân! Các địa phương đang tính chuyện phát hành trái phiếu để trang trải chi tiêu, lấy đâu ra tiền mua nhà?
Các đề xuất giảm thuế giá trị gia tăng, chia nhỏ căn hộ cho dễ bán cũng khó lòng có tác dụng vì nhắm đến người mua có nhu cầu thực sự trong khi đối tượng mà nhiều dự án nhắm đến là người mua đầu cơ, trả tiền ngay để tạo ra dòng tiền như đề án nguyên thủy của họ. Các đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giãn thời điểm nộp tiền sử dụng đất e rằng chẳng có hiệu quả gì nhiều so với kỳ vọng dòng tiền nóng thu hồi nhanh của nhiều chủ đầu tư.
Giải pháp cho thị trường bất động sản, do những yếu tố nói trên, ắt phải đến từ bản thân các doanh nghiệp bất động sản: thay đổi hoàn toàn những tính toán tài chính cho dự án, dựa vào dòng tiền, nay phải kéo dài ra 20, 30 năm, để trang trải vốn vay, thu hồi vốn. Thay đổi đó có thể sẽ thể hiện bằng nhiều hình thức. Giảm giá bất động sản mạnh hơn nữa, đến 30% như nhiều phân tích, để chuyển đổi được đối tượng người mua, là người thật sự có nhu cầu. Từ đó các giải pháp nhắm đến việc kích thích sức mua như giảm thuế mới có tác dụng. Bán lại dự án cho các định chế tài chính có khả năng lập kế hoạch với dòng tiền dài hơi hơn. Dĩ nhiên mức chiết khấu phải cao mới bán được. Hợp tác thật sự với các ngân hàng để tính toán lại dòng tiền qua cơ chế mua trả góp như các thị trường bất động sản nước ngoài.
Dù sao, các bên liên quan trên thị trường bất động sản phải nhận ra một thực tế: đã nhiều năm họ đã có những ảo tưởng về sự bền vững của thị trường nên góp sức thổi bong bóng ngày càng to và cũng đã có lúc thu lợi lớn. Nay họ phải gánh chịu phần chính khi bong bóng xẹp bằng cách tự điều chỉnh. Không thể bắt ngân sách nhà nước gánh chịu qua các biện pháp như giảm thuế vì như thế sẽ không công bằng với người dân. Càng không thể đòi chuyển các dòng tiền đang lành mạnh sang bù đắp cho dòng tiền bất động sản, như một số đề xuất, bởi đó chính là thể hiện rõ nhất của tác hại từ nhóm lợi ích.

Mau quên

Khi nói về chỉ số giá tiêu dùng năm 2012, người ta sẽ nói ngay con số 6,81% được các quan chức và báo chỉ sử dụng.
Ít ai để ý đến con số 9,21%, là chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm 2012 so với cả năm 2011.
Thế mà vào năm 2007 đã từng có tuyên bố rằng từ nay về sau Việt Nam sẽ chỉ dùng cách tính chỉ số giá bình quân. Lúc đó, chỉ số giá bình quân lại thấp hơn so với cách tính cùng kỳ nên có báo mới hỏi đại diện Bộ Tài chính, liệu cách tính mới là để có con số đẹp. Bộ Tài chính trả lời ngon lành: “Không phải chúng ta thấy giá cao quá thì tính theo cách mới. Cái chính là phải thông tin khách quan, trung thực, đảm bảo được thông lệ quốc tế”. Lời giải thích của một quan chức khác nghe cũng rất hợp lý, rằng “dùng chỉ số tháng 12 để kiểm soát lạm phát không phù hợp quốc tế. Chỉ mỗi tháng 12 so với năm trước gọi là cả năm thì không phù hợp. Chính phủ đồng ý từ nay sử dụng chỉ số bình quân năm.”
Nay cái gọi là thông lệ quốc tế bị quên đi, người ta lại quay về cách tính cũ, có lẽ bởi con số bình quân cao hơn hẳn và để khoe, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 6,81%, thấp hơn so với chỉ tiêu do Quốc hội đề ra là 7%. Chỉ có Tổng cục Thống kê vẫn công bố trên trang web của mình: “Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 so với năm 2011: 9,21%”.

Giá thuê, giá mua

Con số đầu tiên trong bất động sản được nhiều người quan tâm là giá nhà đất, bao nhiêu là vừa? Có người nói giá cả do thị trường quyết định, cứ theo giá thị trường hiện nay là không sai. Có người phản bác, thị trường nay đang méo mó, bất động sản tồn kho cao, cung vượt xa cầu, lẽ ra giá phải giảm cho đến khi cung cầu gặp nhau nhưng nào có giảm đâu. Lại có người bảo, giá không thể giảm là do chủ đầu tư đã lỡ kê giá dự án lên cao để vay tiền, nay giảm giá, dù bán được cũng không đủ tiền trả nợ. Chủ nợ là ngân hàng cũng không muốn bất động sản giảm giá vì kẹt giá trị thế chấp lỡ định ở mức cao rồi, cứ để vậy hóa ra có lợi hơn cho sổ sách.
Vậy có cách nào ước chừng giá nhà sao cho hợp lý? Ở các nước có một tỷ lệ thường được dùng để xem thử giá nhà trên thị trường hiện đang đắt hay rẻ. Đó là tỷ lệ tiền thuê nhà so với giá nhà. Lệ thường, tiền thuê nhà tính theo năm, nhân cho 15 thì ra kết quả, được xem là giá căn nhà đó ở mức hợp lý. Ví dụ một căn nhà đang cho thuê với giá 1.500 đô-la/tháng thì 270.000 đô-la (tức 1.500 x 12 x 15) là trị giá phù hợp nhất của căn nhà đó. Thật ra, người ta bảo giá nhà thường nằm trong khoảng tỷ lệ 15-20; dưới 15 là đang rẻ, quá 20 là đắt.
Lấy cách tính này để áp giá nhà cho thị trường Việt Nam chắc chắn là không chính xác. Thứ nhất, tiền thuê nhà ở Việt Nam so với giá trị căn nhà là quá thấp. Ví dụ một căn hộ đang cho thuê 6 triệu đồng/tháng, tức 72 triệu đồng/năm, nếu áp tỷ lệ 15-20 nói trên thì giá căn nhà chỉ vào khoảng 1 tỷ đến 1,4 tỷ đồng trong khi giá thị trường của nó có thể lên đến 3-4 tỷ đồng. Cái này là do yếu tố lịch sử, nhiều người đầu tư mua nhà không phải để cho thuê mà để đợi giá lên và đồng thời bảo toàn được đồng vốn. Trong khi đợi giá lên, họ cho thuê để có người giữ nhà, lại có đồng ra đồng vào. Thử nghĩ mà coi, một căn nhà trị giá 3 tỷ đồng, nếu chủ nhà đem khoản tiền này bỏ vào ngân hàng, hàng tháng có thể nhận lãi lên đến 30 triệu đồng, trong khi làm gì có thể cho thuê căn nhà đấy với giá 10 triệu đồng? Thế mà họ vẫn cho thuê giá thấp vì không hề nghĩ đến chuyện khấu hao nhà cửa, chỉ nghĩ giá chỉ có lên, đồng tiền được an toàn trước rủi ro lạm phát.
Vì thế, kỳ vọng như nhiều ý kiến cho rằng nên khuyến khích phát triển thị trường nhà cho thuê, nhà đầu tư bất động sản nên chuyển từ bán sang cho thuê là chuyện không khả thi. Giá thuê nhà thấp sẽ khó lòng đáp ứng yêu cầu một dòng tiền giúp họ thu hồi vốn và có lãi trong bối cảnh hiện nay; giá thuê cao thì thị trường không chấp nhận. Đó là chưa kể, khác với thị trường cho thuê nhà của người dân với nhau, doanh nghiệp địa ốc cho thuê nhà phải tính đến khấu hao, càng đẩy giá cho thuê lên cao, ít ai chịu nổi.
Ngược lại, muốn chuyển người đang thuê nhà sang mua nhà thì phải làm sao khoản tiền trả góp hàng tháng của họ chỉ cao hơn tiền thuê nhà một mức độ vừa phải họ mới chịu nổi chứ cao gấp 2 hay 3 lần thì chẳng thà họ đi thuê nhà sướng hơn. Nói như thế để thấy muốn thị trường bất động sản trở về trạng thái bình thường, giá nhà phải giảm và giảm mạnh hơn nữa, lãi suất cũng phải giảm mạnh. Đó là những yếu tố phải tính đến khi nghĩ đến chuyện bù lãi suất cho người mua nhà.

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Các kiểu nợ xấu

Cũng là nợ xấu nhưng vấn đề nợ nước ngoài của Thái Lan năm 1997, nợ dưới chuẩn của Mỹ và nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam có những đặc điểm khác nhau nên cách giải quyết cũng khác nhau.  
Khủng hoảng do nợ ở Thái Lan năm 1997
Cách đây hơn 15 năm, vào tháng 7-1997 tôi có dịp đi công tác ở Thái Lan ngay đúng ngày chính phủ nước này quyết định thả nổi đồng baht, khơi mào cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn châu Á. Lúc đó dĩ nhiên báo chí đưa tin rầm rộ, phân tích đủ kiểu nhưng vẫn thiếu vắng một cái nhìn tỉnh táo toàn diện vấn đề nợ của Thái Lan – một cái nhìn chỉ vài năm sau mới lắng xuống thành lịch sử kinh tế. Thậm chí lúc đó, tôi còn khá ngây thơ khi phỏng vấn Thủ tướng đương nhiệm Chavalit Yongchaiyudh, “ông có thể tiên đoán gì cho nền kinh tế Thái Lan trong sáu tháng tới?” Câu trả lời của Chavalit cũng “ngây thơ” không kém: “Tại bất kỳ nước nào, tình hình kinh tế không thể đảo ngược trong vòng sáu tháng. Chúng ta không thể trông chờ sự phục hồi trong sáu tháng. Nhưng các bạn sẽ thấy phép lạ xảy ra tại Thái Lan, tôi tin thế”.
Những tháng sau đó, đồng baht mất một nửa giá trị, nền kinh tế Thái Lan suy sụp hoàn toàn, hàng loạt cao ốc, công trình xây dựng bị đình trệ, nạn thất nghiệp tràn lan, hàng loạt doanh nghiệp lớn phá sản, nhiều ngân hàng đóng cửa. Chỉ một tháng sau tuyên bố của Chavalit, IMF phải nhảy vào và bỏ ra 17,2 tỷ đô-la Mỹ để cứu nền kinh tế Thái Lan.
Bài học về nợ của Thái Lan là gì? Vấn đề nợ của Thái Lan mang yếu tố nước ngoài. Trong nhiều năm liền GDP của Thái Lan tăng bình quân đến 9% mỗi năm, lạm phát thấp, đồng baht gắn cố định với đồng đô-la Mỹ (25 baht ăn 1 đô-la Mỹ) nhưng lãi suất cao (khoảng 13,25% trước khủng hoảng) nên người ta thay nhau vay tiền nước ngoài vô tội vạ. Vay tiền về đổi ra đồng baht gởi vào ngân hàng cũng đã có lãi rồi nên nợ nước ngoài của Thái Lan tăng nhanh, là nguyên nhân chính gây khủng hoảng. Nhất là các khoản tiền này đổ vào bất động sản, tạo ra tình trạng bong bóng hay đổ vào xây dựng nhà máy xi măng, sắt, thép, hoá dầu để cuối cùng xảy ra tình trạng dư thừa ở hầu hết các ngành cơ bản.
Đến năm 1997, nợ nước ngoài của Thái Lan vọt lên 109 tỷ đô-la Mỹ, đa phần là vay ngắn hạn, cán cân vãng lai lại thâm hụt trong nhiều năm liền. Giới đầu cơ nhận định trước sau gì chính phủ Thái cũng phải phá giá đồng tiền bèn nhảy vào đầu cơ đánh giá xuống. Họ vay tiền baht, đổi ra tiền đô-la, khiến chính phủ Thái phải bỏ ra 24 tỷ đô-la (gần hai phần ba dự trữ ngoại tệ) để bảo vệ cái tỷ giá cố định trên và đến khi hết tiền, phải tuyên bố thả nổi đồng baht. Từ 25 baht ăn 1 đô-la Mỹ chỉ trong vòng vài tháng, giá trị đồng tiền này sụt xuống còn 56 baht/1 đô-la Mỹ. Rõ ràng các khoản vay nợ nước ngoài tính bằng tiền baht bỗng dưng tăng gấp đôi, làm nhiều ngân hàng phá sản vì con nợ trong nước phá sản. Khủng hoảng xảy ra và chứng khoán Thái Lan giảm từ đỉnh cao 1.753 điểm còn 207 điểm vào năm 1998. Phải mất 10 năm GDP Thái Lan tính theo đô-la mới phục hồi về lại mức năm 1996. Một ghi chú nhỏ: Thủ tướng Chavalit phải từ chức vào tháng 11-1997, không thể chờ phép lạ xảy ra.
Nợ dưới chuẩn ở Mỹ
Năm 2004 khi qua Mỹ tiếp xúc với khá nhiều người trong cộng đồng người Việt, tôi thấy nổi lên một xu hướng rất rõ: vay tiền mua nhà, rồi dùng nhà đó vay tiền mua nhà tiếp, chờ giá lên để bán hưởng lợi. Có người có đến 4 căn nhà to đùng trong khi nhu cầu không có. Lúc đó, ai cũng “phấn khởi” vì giá nhà vẫn đang lên, cao hơn so với giá mua khá nhiều. Nhẩm tính tiền lãi, ai nấy cũng rộng tay chi xài nhiều hơn thường lệ.
Thật vậy, sau này nhìn lại, người ta bảo lúc đó cho vay mua nhà ở Mỹ khá dễ dàng, những tiêu chí về nguồn thu nhập để trả nợ bị xem nhẹ - từ đó mới có từ “nợ dưới chuẩn”. Bong bóng bất động sản thu hút nhiều người tham gia (đến 40% mua nhà để đầu tư chứ không phải để ở) chừng nào giá nhà vẫn tăng đều đặn (tăng đến 124% từ năm 1997 đến năm 2006). Đến giữa năm 2006 lúc giá nhà đã lên đến đỉnh và bắt đầu giảm nhanh, vấn đề nợ dưới chuẩn nổ ra. Tiền vay mua nhà thường có lãi suất thả nổi và khi lãi suất tăng mạnh, nhiều người mất khả năng chi trả tiền nhà hàng tháng cho ngân hàng. Ngân hàng, trước đó, đã gói những hợp đồng vay tiền mua nhà trả góp đó thành sản phẩm tài chính, đem bán trên thị trường chứng khoán. Các tập đoàn tài chính ôm lấy những loại chứng khoán không còn sinh lợi này bắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn, có nơi phá sản. Khủng hoảng nổ ra mà hiệu ứng vẫn còn kéo dài cho đến tận bây giờ.
Bài học nợ dưới chuẩn ở Mỹ là sự dễ dãi của giới ngân hàng khi cho vay rồi sự lừa dối của nhiều bên liên quan khi biến nợ thành sản phẩm chứng khoán, mua bán trên thị trường làm lây lan một cuộc khủng hoảng lẽ ra chỉ giới hạn trong lãnh vực bất động sản. Ở đây vấn đề tín dụng rẻ, dễ dãi cũng là thủ phạm; tiền cũng chạy từ nhiều nước vào Mỹ nên khủng hoảng quay ngược ảnh hưởng trở lại nhiều nước. Tỷ lệ nợ dưới chuẩn tăng nhanh lên đến 20% tổng dư nợ cho vay mua nhà và hậu quả là tháng 10-2007, tỷ lệ nợ xấu buộc phải tịch biên nhà lên 16%, tăng lên 21% vào đầu năm 2008 và 25% vào tháng 5-2008.
Trở lại Mỹ vào năm 2010, gặp nhau, người ta không còn kể chuyện mua nhà nữa mà là chuyện “kéo nhà”, tức là nơi cho vay tịch biên nhà, bán để thu hồi nợ. Người nào trước đây mua càng nhiều nhà, giờ càng bạc tóc vì lo vì trở thành con nợ không lối thoát.
Nợ xấu Việt Nam
Mới nhìn qua vấn đề nợ xấu Việt Nam cũng có những căn nguyên tương tự: tín dụng dễ dãi, dư nợ tăng vọt, tiền đổ vào nhiều, bất động sản nóng sốt, chứng khoán lên ngôi, thúc đẩy nhiều dự án hoành tráng chỉ để làm tăng giá trị cổ phiếu. Đến khi chứng khoán suy sụp, thị trường bất động sản đóng băng và nhất là khi tín dụng bị siết chặt, nợ xấu bùng phát.
Nhưng nợ xấu ở Việt Nam không giống ở Thái Lan thời thập niên 1990 ở góc cạnh không phải là nợ nước ngoài. Dư nợ của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu là từ trong nước. Cho đến nay áp lực của nợ xấu lên tỷ giá là chưa đáng kể, nên không gây ra áp lực phá giá đồng tiền. Nợ nước ngoài của Việt Nam tăng khá nhanh, từ 31,4% GDP năm 2006 lên 41,5% GDP năm 2011 nhưng chủ yếu là các khoản vay dài hạn của Chính phủ như vốn vay ODA chứ vay thương mại chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Giả thử có thêm vài ba khoản nợ xấu có nguồn gốc nước ngoài như các khoản vay của Vinashin bị Elliott đòi như vừa qua thì tình hình đã rối ren hơn nhiều.
Các gói nợ xấu của Việt Nam cũng chưa bị đóng gói thành sản phẩm chứng khoán để đem ra bán nên tác động của nợ xấu chưa mang tính lây lan mạnh như cuộc khủng hoảng ở Mỹ.
Tuy nhiên nợ xấu Việt Nam lại mang những đặc điểm đáng lo ngại không kém. Đầu tiên là sự thiếu vắng những con số chính xác, được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem như chuyện bình thường. Trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra hai con số: “Theo số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 30-9 thì nợ xấu là 4,93%. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước thì con số này nằm ở khoảng 8,82%”. Các ngân hàng báo cáo một đằng, đánh giá của NHNN một nẻo mà lại không có biện pháp gì chấn chỉnh, ít nhất về mặt báo cáo số liệu là chuyện khó chấp nhận. Muốn có những giải pháp tốt cho vấn đề nợ xấu thì trước tiên phải có thông tin chính xác về nợ xấu.
Thứ hai, nguồn gốc nợ xấu chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước hay chính quyền các cấp. Chỉ tính riêng tập đoàn Vinashin, các khoản nợ đến hạn phải trả hàng năm từ lúc nổ ra khủng hoảng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm. Vinashin bất lực, không trả được, chúng đã biến thành nợ xấu của các ngân hàng! Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước như thế hiện là con nợ khó đòi. Theo một báo cáo, doanh nghiệp nhà nước chiếm đến 70% tổng nợ xấu. Bên cạnh đó, nợ đọng xây dựng cơ bản mà con nợ là các bộ, ngành và chính quyền địa phương cũng làm nhiều nhà thầu trở thành con nợ xấu của ngân hàng. Con số nợ đọng này lên đến 90.000 tỷ đồng nhưng bao nhiêu phần trăm biến thành nợ xấu thì không có số liệu. Như thế, giải quyết nợ xấu trở thành chuyện của nhà nước, phải tính đến chuyện khoanh nợ, tái cấp vốn – tất cả sẽ đè nặng lên ngân sách vốn đã eo hẹp. Nếu không, làm sao có chuyện ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp của doanh nghiệp nhà nước, có ai dám bán tài sản của các doanh nghiệp này dưới giá sổ sách, đất đai được cấp nay giải quyết làm sao?
Loại trừ khoản nợ xấu nói trên, phần còn lại thiết nghĩ không khó giải quyết. Lúc đó bài học giải quyết nợ xấu ở Thái Lan hay ở Mỹ sẽ rất hữu ích. Đó là mạnh dạn cho đóng cửa những ngân hàng nào yếu kém, cho vay bất chấp rủi ro, định giá tài sản thế chấp sai lầm, lại không chịu trích lập dự phòng đầy đủ… Đó là sửa đổi Luật Phá sản để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bất động sản có lối thoát, tự nhiên giá cả sẽ quay về mức xã hội chấp nhận được và một phần lớn nợ xấu sẽ được thu hồi. Không lẽ chúng ta phải đợi những hệ quả của nợ xấu xảy ra như phá giá đồng tiền ở Thái Lan, vỡ nợ tại nhiều ngân hàng ở Mỹ… lúc đó mới chịu có biện pháp mạnh tay?

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Tình hình kinh tế Việt Nam đang như thế nào?

Một câu hỏi thường trực trong tâm trí nhiều người là sức khỏe kinh tế thực sự đang ra sao mà thấy sao có nhiều dấu hiệu trái ngược nhau quá. Nhìn quanh, ai cũng nói chuyện doanh nghiệp tư nhân rơi rụng đến con số hàng chục ngàn, thậm chí cả trăm ngàn, ai cũng có quen biết với một người vừa mới thất nghiệp và ai cũng thấy làm ăn ngày càng khó khăn, thậm chí đến chỗ bế tắc. Các đại biểu Quốc hội than nghe còn bi đát hơn như “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi”.
Nhưng lùi lại một chút, nhìn vào các chỉ số quan trọng thì thấy tình hình đang cải thiện: lạm phát được kềm chế, tỷ giá ổn định, cán cân thương mại tương đối cân bằng, xuất khẩu tăng trưởng tốt, và đặc biệt thị trường chứng khoán đang ấm dần lên.
Tìm đâu ra một góc nhìn khách quan, có thể tin cậy được!
Trong một tài liệu bằng tiếng Anh tôi được đọc qua, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright kết hợp với Trung tâm Ash thuộc trường Harvard Kennedy School lại một lần nữa đưa ra những nhận định sắc bén, phân tích thẳng những vấn đề của nền kinh tế.
Trước hết bản báo cáo cho rằng Việt Nam vừa thoái khỏi một tình hình nguy cấp, nền kinh tế suýt đổ vỡ cách đây khoảng 12 tháng. Nhưng nền kinh tế không phải đang phục hồi mà đúng hơn là rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài. Muốn thoái khỏi tình trạng này, Việt Nam phải dọn dẹp hệ thống ngân hàng, tiếp tục cải tổ khối doanh nghiệp nhà nước và hồi sức cho khu vực tư nhân trước khi thành tựu của 14 năm qua bị xóa sạch.
Tuy nhiên dường như không ai muốn hành động gì, không muốn thay đổi hiện trạng vì 5 nhầm tưởng (myths) khá phổ biến trong giới lãnh đạo.
-          Nhầm rằng: Khủng hoảng đã qua, tình hình đang dần cải thiện (nên không cần làm gì cả);
-          Nhầm rằng: Giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng không cần phải dùng đến ngân sách Chính phủ (nên vốn VAMC chỉ có 500 tỷ đồng);
-          Nhầm rằng: Các tập đoàn, tổng công ty có thể tự tái cấu trúc bằng các kế hoạch do chính họ soạn thảo (theo kiểu tự mình nắm đầu tóc kéo lên khỏi bùn);
-          Nhầm rằng: Có thể phục hồi khu vực tư nhân bằng các biện pháp tài khóa (giảm thuế) và tiền tệ (giảm lãi suất) (trong khi thực tế các thành tựu của Luật Doanh nghiệp đang gần như bị xóa sổ dần);
-          Nhầm rằng: Khu vực nông nghiệp có thể tiếp tục là tấm đệm, giảm sốc cho nền kinh tế, thu nhận hết lượng lao động công nghiệp bị mất việc (thực tế nền nông nghiệp rất dễ bị tổn thương, môi trường đang ô nhiễm, sức nông dân đã cạn).
Khác với lần khủng hoảng cuối thập niên 1990, lúc đó Việt Nam đã đưa ra những cải cách mạnh mẽ, nhất là việc cho ra đời Luật Doanh nghiệp năm 2000 nên kinh tế phục hồi nhanh chóng và bền vững trong nhiều năm liền, lần này chính sách chỉ thấy xoay quanh hai chuyện “nới lỏng” và “thắt chặt” nên nền kinh tế cứ giật cục, tăng trưởng cao thì lạm phát nhiều, kềm chế lạm phát thì kinh tế trì trệ. Ba chương trình cải cách lớn về doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và đầu tư công hầu như chưa triển khai được gì cụ thể. Nợ xấu mà giải quyết theo cách như hiện nay chỉ là tạm thời khoanh nó lại, chuyển sang tương lai.
Nếu cứ để yên như thế này thì nền kinh tế sẽ chỉ còn tăng trưởng khoảng 3%, khó khăn kéo dài, doanh nghiệp tư nhân tiếp tục phá sản, thất nghiệp tiếp tục lan rộng.
Riêng tôi chỉ bổ sung thêm một ý: Nền kinh tế Việt Nam trước nay phát triển chủ yếu nhờ yếu tố vốn. Nay tín dụng không tăng thì làm sao có tăng trưởng? Tín dụng chắc chắn sẽ không tăng mạnh vì ngân hàng đang lo dọn dẹp lại bảng cân đối tài chính cho lành mạnh, doanh nghiệp cũng không còn sử dụng đòn bẩy nợ mạnh mẽ như trước, sức lực cũng không còn để đi vay chịu rủi ro. Nợ xấu mà giải quyết theo cách kéo dài trong năm năm thì ngân hàng càng không có sức lực hay động lực đâu để cho vay. Trong bối cảnh đó, như một quy luật bù trừ về khoản trống vốn, nhiều lãnh vực quan trọng của nền kinh tế tiếp tục rơi vào tay đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp.
                                                                                                     Theo Nguyễn Văn Phú

“Muốn phá băng tín dụng, phải xử lý nợ xấu”

So với cùng kỳ năm ngoái, nhiều chỉ số đang chứng tỏ tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và tốc độ tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam đang “ấm” dần lên. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, vẫn còn đó những thách thức cả trước mắt và dài hạn.

Về vấn đề này, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh Việt Nam (BDI) đã bày tỏ góc nhìn của mình.

Thưa ông, sau nhiều tháng ở trên mức an toàn (trên 50%), tháng 5/2013, chỉ số quan trọng PMI (chỉ số quản lý mua hàng) của Việt Nam theo công bố của HSBC đã lại thụt về mức 48,8, điều này thể hiện điều gì của nền kinh tế?

Theo tôi, nhìn nhận một cách tổng quan nền kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu phục hồi từ đáy. Nhiều chỉ số quan trọng đã có những cải thiện đáng kể so với hồi đầu năm.

Đặc biệt, chỉ số PMI (chỉ số quản lý mua hàng) theo công bố HSBC từ tháng 1/2013 đều thấp dưới 50, tuy nhiên từ tháng 3/2013 bắt đầu lên 50,8, tháng 4/2013 vào khoảng 51, và tháng 5/2013 ở mức 48,8, có tụt giảm chút ít. Tuy nhiên, nhìn vào hai chỉ số PMI và chỉ số tăng trưởng công nghiệp thì chúng ta có thể thấy xu thế của ngành công nghiệp đang phục hồi.

Thưa ông, “phá băng tín dụng” là một cụm từ thời thượng, nhưng phá “băng” như thế nào, phá ra sao không phải là điều đơn giản. Dưới góc độ một chuyên gia tài chính, ông có thể lý giải rõ hơn, đặc biệt là với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam?

Có ý kiến cho rằng việc phá băng tín dụng có thể đạt được một cách rõ ràng bằng các giải pháp như giảm lãi suất tiền gửi và cho vay, làm cho cầu tín dụng tăng lên. Ở đây, tôi nghĩ vấn đề không đơn giản như vậy.

Chúng ta thấy Mỹ bắt đầu chiến lược phá băng tín dụng vào năm 2008 và họ đã chi tới 4.000 tỷ USD cả từ ngân sách liên bang và ngân hàng trung ương để mua nợ xấu, thực chất là các tài sản độc hại và các loại trái phiếu có thế chấp bất động sản. Rồi họ xử lý cho phá sản gần 800 ngân hàng nhỏ và đã bỏ ra hàng trăm tỷ USD để cứu trợ các tập đoàn lớn như GM là một ví dụ...

Nhưng cũng phải mất đến gần 5 năm trời, nghĩa là phải đến quý 1/2013 vừa rồi Mỹ mới tuyên bố “tảng băng tín dụng” bắt đầu tan sau khi đã tốn kém rất nhiều tiền của, sức lực. Điều đó cho thấy phá băng tín dụng là vấn đề không hề đơn giản, mặc dù mức lãi suất của Mỹ trong 5 năm vừa rồi hầu như không thay đổi ở mức thấp tuyệt đối.

Tôi cho rằng, nền kinh tế Việt Nam có thể năng động hơn, và khoảng thời gian cần để chúng ta phá băng tín dụng có thể không dài bằng Mỹ, nguồn lực chúng ta cần cũng có thể không lớn như vậy, nhưng nhất thiết phải có thời gian, và nhất thiết phải áp dụng các biện pháp và các bước xử lý nợ xấu và các ngân hàng thương mại yếu kém như Mỹ và các nước khác đã làm.

Động thái phá băng tín dụng có mấy bước mà hầu như tất cả các quốc gia khác đều gặp phải là: thứ nhất, phá băng tín dụng trong hoàn cảnh “cầu” rất yếu, khiến cho người ta có cảm giác ngay cả hạ lãi suất xuống rất thấp thì nhu cầu về vốn của doanh nghiệp vẫn không tăng.

Vì vậy, các nhà băng thương mại dường như không mấy tin tưởng vào khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp. Bản thân doanh nghiệp cũng cảm thấy cầu tiêu dùng rất thấp, hàng tồn kho rất cao, vì vậy lòng tin của họ vào thị trường cũng bị giảm sút.

Rồi người tiêu dùng cũng cảm thấy thu nhập của họ cũng khó khăn, tương lai rất bấp bênh nên không dám tiêu dùng. Rõ ràng những trở ngại rất lớn như vậy khiến cho tín dụng không thể dễ gì tan chảy một cách nhanh chóng được.

Vì vậy, nhất định Chính phủ phải có những can thiệp để tăng tổng cầu. Mà can thiệp quan trọng nhất và đầu tiên theo tôi là Chính phủ phải đẩy mạnh đầu tư công nhằm vào những mục tiêu lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học...

Đặc biệt, phát hành trái phiếu để lấy tiền làm vốn đối ứng để giải ngân ODA. Bởi nếu cho doanh nghiệp vay 2 đồng vốn đối ứng thì chúng ta sẽ giải ngân được 8 đồng ODA, vì ODA đòi hỏi phải có 20% vốn đối ứng nhưng ngay cả 20% ấy chúng ta cũng không có, như vậy là 100% vốn ODA cứ nằm yên đấy không thể giải ngân được!

Hướng thứ hai là nhất thiết phải xử lý nợ xấu, đây chính là vật cản khiến cho doanh nghiệp và ngân hàng đều nhìn nhau, mặc dù tình trạng tài chính của các ngân hàng ngày càng khó khăn, lợi nhuận ngày càng giảm. Họ có nhu cầu thực sự là muốn đẩy tín dụng, nhưng không biết đẩy vào đâu, vì cộng đồng doanh nghiệp đang rất khó khăn, có doanh nghiệp thì lâm vào nợ xấu, có doanh nghiệp không tìm được thị trường...

Đây có phải là nguyên nhân lý giải vì sao những gói tín dụng ưu đãi mà các ngân hàng thương mại tuyên bố tung ra trong thời gian gần đây (gần nhất là gói tín dụng 30 ngàn tỷ đồng giải cứu thị trường bất động sản) xuống rất chậm, thậm chí không xuống được với cộng đồng doanh nghiệp? Theo ông dự báo của ông, tăng trưởng tín dụng cả năm 2013 sẽ ở mức nào?


Như đã nói lý do tạo nên băng tín dụng là nợ xấu, nếu không giải quyết vấn đề gốc gác này mà chỉ giải quyết vấn đề ngọn, tức là đẩy tín dụng ra, thì cũng có những tác động nhất định, nhưng đây cũng chỉ là những cú “hích”, như tăng đầu tư công, đẩy tín dụng ra để hỗ trợ thị trường bất động sản. Đấy chỉ là những biện pháp có tính chất hỗ trợ, về căn bản vẫn là phải xử lý được nợ xấu, mới thông được mạch tiền tệ khu vực ngân hàng.

Theo tôi, tăng trưởng tín dụng năm 2013 này sẽ đạt khoảng 12%, dù trong 5 tháng đầu là khá thấp. Bởi ai cũng hiểu, tín dụng thường tăng mạnh trong 6 tháng cuối năm, ví như năm ngoái, 6 tháng đầu năm tăng trưởng âm, nhưng 6 tháng cuối năm tăng trưởng cũng lên xấp xỉ 9%.

Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013

Cơ Cấu Kinh Tế Việt Nam nhìn về khu vực tư nhân và ngành công nghiệp

Ngày trước khi đi học ở trường Thương Mại hay các trường kinh tế khác thì có một câu mà ai cũng nhớ khi nói về nền kinh tế Việt Nam đó là, nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Câu nói đó rất đúng với nền kinh tế Việt Nam trước đây và cũng như hiện tại bây giờ, những cũng chính vì quan điểm đó mà kinh tế Việt Nam mới lâm vào hoàn cảnh bi đát như hiện nay. Nói về đóng góp trên tỷ lệ GDP thì như sau kinh tế nhà nước chiếm 40%, tư nhân 40% ( trong đó chiếm tỉ trọng lớn là tư bản thân hữu ), FDI chiếm 20%. Khu vực nhà nước chiếm 40% GDP nhưng lại ngốn gần hết nguồn lực của xã hội điều đó cho thấy khu vực này rất kém hiệu quả. Chính vì vậy người ta mới hô hào tái cơ cấu kinh tế, mục  đích chính là để phân bổ lại nguồn lực, thế nguồn lực ở đây là cái gì đó là tiền và một phần là cơ chế. Tôi chưa thấy một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển được mà không dựa vào khu vực tư nhân, vì đây là khu vực sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, theo tính toán thì cứ 3 đồng vốn thì khu vực tư nhân tạo ra một đồng GDP, mấy anh FDI thì kém hơn một chút là 4 đồng, còn khu vực nhà nước với vô số ưu đãi thì phải mất 12 đồng. Những cũng phải nói thêm rằng ở tư nhân cũng có những anh làm ăn bừa bãi ( đa số là tư bản thân tộc ) như bầu kiên chẳng hạn ( được thì ăn, lỗ nhà nước phải chịu nhất là trong khu vực ngân hàng thương mại ). Trên thế giới tôi chưa thấy có một nước nào  lại phát triển được mà lại không dựa vào khu vực tư nhân, còn ở việt nam với khẩu hiệu đến năm 2020 sẽ chở thành một nước công nghiệp thì đến nay có thể nói chắc chắn đã thất bại thì khu vực kinh tế tư nhân vô cùng yếu ớt đa số là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hơn thế nữa chính sách của nhà nước lại không hướng họ vào khu vực công nghiệp mà lại hướng họ vào những ngành như bất động sản, ngân hàng. Trên thế giới cũng không có một nước đang phát triển nào mà lại có tỷ phú tiền đô bằng việc kinh doanh bất động sản như ông phạm nhật vượng. Điều đáng tiếc nhất trong việc phát triển ngành công nghiệp việt nam là chính phủ đã để cho xe máy chở thành phương tiện chủ yếu của người dân, tôi cũng xin nói rằng trên thế giới không có một nước nào cho phép pháp triển ngành công nghiệp xe máy như việt nam ngay cả triều tiên, lào họ cũng không cho phép phát triển xe máy. Các bạn cứ nghĩ xem một chiếc xe máy thì có bao nhiêu bộ phận để có thể phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ được, trong khi đó bất cứ một quốc gia nào chỉ cần có dân số trên 10 triệu thì họ cũng đã hết sức chú tâm phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước vì kéo theo việc phát triển ngành công nghiệp ô tô thì  công nghiệp phụ trợ sẽ phát triển theo và kéo theo là cả ngành công nghiệp trong nước. Nhiều người nói đó là vì chúng ta nhận ODA của Nhật thì phải làm theo ý họ, nhưng có lẽ đây là cái giá quá đắt và quá ấu trí. Trở lại với vấn đề tái cơ cấu kinh tế Việt Nam thì có người nói rằng chúng ta sinh bố mẹ ra trước con ra sau, vì sao vì chúng ta có tái cơ cấu tổng thổng nhưng chi tiết về tái cơ cấu đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước thì vẫn chưa có gì cả thậm chí một tập đoàn lại có kiểu tái cơ cấu nhưng vẫn phải giữ miếng cho mình. Đọc bản tái cớ câu thì tôi chẳng hiểu người ta sẽ tái cái gì, tái như thế nào. Chính vì vậy mà quá trình tái cơ cấu này tôi cũng chẳng hi vọng gì

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

NHNN lấy đâu ra tiền cho vay mua nhà và mua nợ xấu?

NHNN lấy đâu ra tiền cho vay mua nhà và mua nợ xấu?
Đối với người không chuyên như chúng ta, có lẽ cũng không cần hiểu “tài khóa” và “tiền tệ” là gì, khác nhau như thế nào. Khổ nỗi, chúng là những khái niệm cơ bản để hiểu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy đâu ra tiền để rót vào bất động sản cũng như lấy đâu ra tiền để giải quyết đống nợ xấu mà không sử dụng đến ngân sách.
Tài khóa khác tiền tệ
Nói một cách đơn giản hóa, Bộ Tài chính lo các “chính sách tài khóa”; Ngân hàng Nhà nước lo các “chính sách tiền tệ”.
“Chính sách tài khóa” thì liên quan đến việc tăng (giảm) thuế, tăng (giảm) mức chi tiêu của chính phủ. Chính phủ thu thuế và các nguồn khác vào ngân sách để có tiền mà chi tiêu. Chi nhiều hơn thu sẽ dẫn tới bội chi, lúc đó phải vay tiền về mà tiêu. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Chính phủ có thể giảm thuế cho doanh nghiệp và người dân hoặc tăng đầu tư từ ngân sách nhưng chính sách tài khóa như thế có giới hạn nhất định vì giảm thuế mãi lấy tiền đâu để ngân sách đầu tư ra xã hội. Chi tiêu như thế phải được Quốc hội phê duyệt hàng năm.
“Chính sách tiền tệ” thì liên quan đến lãi suất và nguồn cung tiền. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, NHNN có thể tăng nguồn cung tiền và nhờ đó giảm lãi suất. Lãi suất giảm thì kích thích doanh nghiệp đầu tư. Nhưng tiền bơm ra đến một mức nào đó sẽ gây ra lạm phát. Hay nói cách khác khi lạm phát cao thì NHNN phải tăng lãi suất, giảm cung tiền.
Nay 30.000 tỷ đồng bơm ra thị trường cho người dân vay để mua nhà và doanh nghiệp vay để xây nhà xã hội là từ bên nào? Không phải từ bên tài khóa (Bộ Tài chính) vì ngân sách đang thâm hụt, lấy đâu ra tiền mà bơm cho bất động sản. Mà lấy từ ngân sách thì phải báo cáo xin phép Quốc hội phiền phức lắm.
30.000 tỷ đồng này lấy từ NHNN. Vậy câu hỏi là NHNN lấy đâu ra tiền để làm chuyện này? Câu trả lời rất đơn giản: NHNN in tiền.
In tiền như thế nào?
Ở đây lại cần phải nói cho rõ: Hàng năm NHNN phải in một lượng tiền giấy nhất định (in tiền theo nghĩa đen) để thay thế tiền cũ, rách nát và bổ sung vào lượng tiền mặt đang lưu hành trên thị trường theo kế hoạch đã định trước. Còn nói NHNN “in tiền” đối với khoản 30.000 tỷ đồng nói trên là nói theo nghĩa bóng. Không có chuyện máy in chạy rầm rập in ra chừng ấy tiền mà đơn giản là NHNN ghi có một khoản tiền như thế cho các ngân hàng tham gia chương trình. Các ngân hàng lúc này lấy tiền ra để cho vay. Khỏe re!
Nếu mọi việc êm xuôi, 10 năm sau khách hàng trả nợ, ngân hàng thương mại trả lại cho NHNN, tức xóa đi cái khoản ghi nợ ngày xưa. Ai nấy đều vui vẻ.
Nhưng sự đời thường không êm xuôi.
Đầu tiên, hành động của NHNN đó gọi chính thức là “tái cấp vốn”, nghe rất mơ hồ, khó hiểu. Thực chất, đây là cách NHNN cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho ngân hàng, đặc biệt khi ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản. Chú ý đến từ “ngắn hạn” – tức dưới một năm. Nay NHNN lách chuyện “ngắn hạn” bằng cách quy định: “Thời hạn tái cấp vốn cho vay hỗ trợ nhà ở từng lần là 364 ngày và tự động được gia hạn đối với dư nợ tái cấp vốn còn lại tại thời điểm đến hạn thêm 01 (một) thời gian bằng thời hạn tái cấp vốn lần đầu. Việc tự động gia hạn được thực hiện tối đa kéo dài đến ngày 01/6/2023”. Cũng thật là khỏe re một kỹ thuật lách luật!
Thứ hai, luật cũng có nói, để được tái cấp vốn, ngân hàng phải đem một cái gì đó lên thế chấp với NHNN (như cầm cố trái phiếu), ở đây không thấy nói yêu cầu gì từ phía ngân hàng tham gia.
Như đã nói ở trên, tiền bơm vào nền kinh tế như thế sẽ gây áp lực lên lạm phát và nhiều hệ lụy khác. Còn nhớ các lần “bù lãi suất 4%” vào năm 2009 đã vừa gây ra lạm phát, vừa dẫn đến những khoản nợ xấu khổng lồ hiện nay. Giả thử một tỷ lệ nhất định người vay mua nhà không trả được nợ, NHNN sẽ gánh khoản lỗ này.
Quan trọng hơn, cái hình thức “tái cấp vốn” dễ dàng như thế đang được NHNN lạm dụng trong nhiều trường hợp khác như hứa hẹn cấp 10.000 tỷ đồng tái canh cây cà phê ở Tây Nguyên. Rồi sắp tới, giải quyết nợ xấu, NHNN cũng sẽ dùng “chiêu” tái cấp vốn để hóa giải nợ xấu cho các ngân hàng với khoản tiền dự kiến không còn vài chục ngàn mà có thể lên cả trăm ngàn tỷ đồng. Biết bao nhiêu tiền sẽ được “in” ra, biết bao nhiêu rủi ro đang chực chờ phía trước.
Mua bán nợ xấu
Giả thử bạn cho người hàng xóm vay 100 triệu đồng, đến hạn rồi quá hạn một năm người này vẫn không trả được nợ, nợ biến thành nợ xấu. Đòi không được, bạn tính đến chuyện nhờ một công ty dịch vụ chuyên đi đòi nợ thuê đòi nợ, bên này đòi chi phí đến 50 triệu đồng. Nói cách khác bạn sẽ “bán” khoản nợ 100 triệu đồng cho công ty này với giá 50 triệu, vậy còn hơn không đòi được đồng nào.
Như vậy bán một khoản nợ xấu được bao nhiêu là tùy thương lượng giữa bạn và công ty đòi nợ, khả năng đòi khó thì giá còn giảm nữa.
Hôm qua Chính phủ vừa ra nghị định thành lập công ty mua bán nợ kiểu như thế nhưng có những đặc điểm rất lạ. Theo dự thảo trước đó, công ty này mua nợ của các ngân hàng bằng mệnh giá (tức ở đây mua đúng 100 triệu luôn), nhưng không trả bằng tiền mặt mà trả bằng tờ giấy nhận nợ (trái phiếu). Xong rồi ngân hàng đem tờ trái phiếu này lên NHNN, đưa cho NHNN như một dạng cầm cố, NHNN mới đưa cho ngân hàng một cục tiền ghi trong sổ sách (gọi là tái cấp vốn như nói ở trên) nhưng cục tiền này không bằng mệnh giá trái phiếu mà nhỏ hơn (kiểu như 100 triệu nợ, giờ chỉ còn 30 triệu, chẳng hạn).
-          Lẽ ra công ty mua bán nợ là nơi định giá khoản nợ chứ không phải NHNN.
-          Công ty mua bán nợ không bỏ tiền ra nên thực tế là ngân hàng chủ nợ bán nợ cho NHNN, cái công ty mua bán nợ chỉ là một dạng trung gian.
-          NHNN dùng “chiêu thức” tái cấp vốn nên đúng là không sử dụng ngân sách nhà nước nhưng sẽ phải đảm nhiệm một mớ tài sản xấu, lại phải tung ra thị trường một lượng tiền lớn, gây áp lực lên lạm phát.
-          Lạ nhất là phát biểu của đại diện NHNN: “Các doanh nghiệp có nợ xấu bán cho VAMC sẽ được tiếp tục vay vốn của TCTD theo quy định hiện hành”. Nhớ lại ông hàng xóm trên, lẽ ra phải liệt ông vào dạng khó chơi, bắt ổng chịu một phần trách nhiệm nay lại cho ông vay tiếp, lại đẻ ra nợ xấu tiếp.
-          Ở trên bạn bán nợ cho công ty dịch vụ, nơi này sẽ tích cực đi đòi nợ, thu tiền về. Đằng này cái công ty mua bán nợ sắp được thành lập làm sao có đủ người, đủ kinh nghiệm và đủ nguồn lực khác để đi đòi nợ. NHNN thì không thể trực tiếp đi đòi nợ rồi.
-          Thực chất đây chỉ là cách tạm thời chuyển nợ xấu từ ngân hàng qua cái công ty trung gian kia, sổ sách ngân hàng đẹp lên, hy vọng họ sẽ sẵn lòng cho vay tiếp. Còn cái cục nợ kia, hy vọng từ từ doanh nghiệp làm ăn khá trở lại sẽ trả được nợ.
Các tổ chức như IMF từng cảnh báo các ngân hàng trung ương không nên đảm nhiệm những công việc lẽ ra thuộc bên “tài khóa” vì làm thế sẽ gây áp lực lên lạm phát, đi ngược lại vai trò chủ yếu của một ngân hàng trung ương. Thôi đành quan sát chờ xem NHNN sẽ xoay xở thế nào với lạm phát – gói bù lãi suất 4% ngày xưa nay trở thành nợ xấu – nợ xấu được giải quyết bằng tái cấp vốn – để xem nó lại biến thành cái gì nữa đây.
                                                                                          Theo Nguyễn Văn Phú

Tham gia TPP, GDP sẽ tăng bao nhiêu?

Mặc dù đang bận một kế hoạch làm sách nhưng không thể không nói cho rõ một con số có nguy cơ gây hiểu nhầm.
Đó là hiện nay một khi nói đến Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) người ta thường nói tham gia TPP thì Việt Nam sẽ hưởng lợi lớn như GDP sẽ tăng khoảng 11%, xuất khẩu sẽ tăng khoảng 28%.
Nói như thế là không có nghĩa gì cả nếu không muốn nói là dễ làm hiểu sai lệch. GDP tăng 11% rồi xuất khẩu tăng 28% là so với năm nào? Hay cứ việc tham gia TPP là GDP cứ thế tăng mỗi năm 11%, xuất khẩu mỗi năm tăng 28%?!!!
Thật ra đây là các con số người ta đưa ra để so sánh hai kịch bản. Lấy cột mốc là năm 2025, nếu không tham gia TPP thì GDP sẽ bằng chừng ấy, xuất khẩu sẽ bằng chừng ấy; còn nếu tham gia TPP thì GDP sẽ lên chừng này, xuất khẩu cũng lên chừng này. Tức là nếu tham gia thì GDP sẽ cao hơn không tham gia 11% và xuất khẩu cũng vậy, cao hơn 28%.
Cụ thể hơn, theo tính toán của GS Peter Petri (đại học Brandeis) thì năm 2025, xuất khẩu Việt Nam ước chừng 239 tỷ đô-la Mỹ nếu không tham gia TPP; còn tham gia TPP (có Nhật Bản) thì ước tính sẽ tăng lên 307 tỷ đô-la Mỹ, tức tăng 67,9 tỷ đô-la hay tăng thêm 28,4%.
Con số 11% ở đâu ra không biết, còn tính toán của GS Petri về GDP là như vầy: GDP 2025 không có TPP: 340 tỷ đô-la. Có TPP mà thêm Nhật tham gia nữa thì GDP năm 2025 của Việt Nam sẽ tăng thêm 35,7 tỷ đô-la Mỹ (tăng 10,5%)  lên mức 375,7 tỷ đô-la.
Ở đây xin lưu ý, tài liệu của Amcham khi nói đến đây thì nhầm GDP tăng 35,7% cũng là một lỗi sai bị lập đi lập lại nhiều nơi, nhiều lần.
Bản thân GS Petri cũng thay đổi số liệu ước tính nhiều lần với rất nhiều con số khác nhau, các con số trên là năm 2013 còn mấy tài liệu năm 2012 và 2011 thì ổng ước tính khác nữa. Và cuối cùng nếu tham gia TPP vào năm 2013 hay 2014 thì cũng đến năm 2020 mới bắt đầu thấy tác dụng lên tăng trưởng GDP hay xuất khẩu.
Bổ sung: Cái ở trên là do thấy nhiều nơi, mỗi khi nói về TPP, đều dùng câu đó cả. Mới nhất là trong bài viết “Bao giờ nền kinh tế Việt sẽ phục hồi?” của ông Alan Phan cũng nói: “Theo dự tính, nếu Việt Nam gia nhập TPP sau khi quốc hội Mỹ thông qua, GDP của Việt Nam có thể tăng trưởng 11% trong khi xuất khẩu gia tăng 26% mỗi năm”rất là mơ hồ.
Còn ông giáo sư đó tính toán như thế có đúng hay không thì làm sao mình biết được.  
Anh Lê Hồng Giang, một chuyên gia tài chính, có ý kiến như sau:
Peter Petri sử dụng mô hình CGE (GTAP) để dự báo cho một số kịch bản khác nhau.  Hầu như tất cả các dự báo chính sách liên quan đến tự do hóa thương mại đều sử dụng CGE, kết quả bao giờ cũng rất lạc quan vì CGE xây dựng trên cơ sở kinh tế học tân cổ điển trong đó thuế luôn luôn có tác động tiêu cực nên giảm bớt những thứ đó bao giờ cũng giúp kinh tế tăng trưởng mạnh hơn.
Những con số tăng trưởng GDP và xuất khẩu do Petri tính toán đều là tương đối so với kịch bản base case, thường được giả định là kịch bản có tăng trưởng ổn định và nền kinh tế (Việt Nam và thế giới) không có các thay đổi về cấu trúc và các cú sốc bất ngờ. Bởi vậy nếu có một cuộc khủng hoảng tài chính khác nổ ra hay Việt Nam có những structural change đáng kể thì những con số nói trên không còn mấy ý nghĩa. Cứ lấy những đánh giá CGE về lợi ích của việc gia nhập WTO trước đây ra xem lại thì biết.
Tuy Việt Nam vẫn nên gia nhập TPP vì nhiều lý do nhưng không nên có quá nhiều kỳ vọng vào những con số tăng trưởng được quảng cáo dù về mặt định tính có lẽ đúng.
                                                                                                         Theo Nguyễn Văn Phú

Có tiền nên đầu tư vào đâu

Ở Việt Nam thì rất khác các nền kinh tế phát triển, bởi người dân có rất ít kênh đầu tư. Có 5 kênh đầu tư cơ bản ở Việt Nam đó là bất động sản, vàng, đô la, chứng khoán, và gửi tiết kiệm ngoài ra còn có kênh nữa đó là đầu tư sản xuất kinh doanh hay còn gọi là thị trường ngách. Trước tiên nói về 5 kênh đầu tư cơ bản thứ nhất đó là bất động sản theo tôi với giá trị BDS cao gấp 26 lần thu nhập bình quân đầu người cộng với việc nên kinh tế đang gặp vo vàn khó khăn thì ít nhất trong vòng 5 năm nữa thì không nên đầu tư vào. Thứ hai là vàng, vàng việt nam diễn biến theo vàng thế giới sẽ rất khó nói về tương lai của giá vàng nhưng với tôi thì tôi đặt cược vào nên kinh tế thế giới sẽ phục hồi , như vậy cơ hội để đầu tư vào vàng trong trung hạn và dài hạn nhiều khả năng sẽ gặp thất bại. Thứ ba là usd, hiện nay thì rất ít người dân nắm giữ usd vì so với các kênh khác nó không có lợi bằng nhưng một khi việt nam mà rơi vào tình trạng đình đốn lạm phát thì nó sẽ là một kênh đầu cơ tích trữ rất lợi hại ( tất nhiên ít nhất là 6 tháng nữa  thì chưa nên nắm giữ đồng tiền này ). Thứ 4 là chứng khoán, kênh này thì đa số người dân đã bỏ từ lâu bởi tính minh bạch của nó, kênh này tương đối rủi ro nhưng hiện tại so với các kênh khác nó vẫn là kênh có sóng vẫn có thể lướt được, nhưng điều này chỉ dành cho các quỹ đầu tư và các nhà đầu tư có tổ chức còn nhà đầu tư cá nhân nếu thực sự am hiểu thì mới nên tham gia. Thứ năm là gửi tiết kiệm , kênh này thì đa số là dành cho những công chức về hưu hoặc là nơi tạm trú của các kênh đầu cơ để tìm cơ hội,nhưng hiện kênh này đang được khá ưa chuộng bởi hiện tại đầu tư vào kênh này là tương đối an toàn trong khi môi trường kinh doanh ở việt nam tương đối rủi ro, tạm thời nó đang là vịnh trú bão  của nhiều nhà đầu tư. Một kênh khác mà người ta gọi là thị trường ngách ( sản xuất kinh doanh ), đây là thị trường vô tận nếu ai phát hiện ra các lỗ trống của nó

Bao giờ nền Kinh Tế Việt sẽ phục hồi?

BAO GIỜ NỀN KINH TẾ VIỆT SẼ PHỤC HỒI?
T/S Alan Phan
3 June 2013
 
Tôi thích tạo ra rất nhiều dự đoán kinh tế. Người ta sẽ quên những dự đoán sai và chỉ cần họ nhớ một lần khi tôi trúng (Alan Cox)
Tuần qua tôi ra Hà Nội để nói chuyện ở 3 cuộc hội thảo nhỏ với khoảng 2 ngàn người. Câu hỏi đầu môi ở khắp nơi là “bao giờ kinh tế chúng ta mới phục hồi?”. Ngoài các quan chức, ai cũng muốn đánh giá và đo lường sức chịu đựng của họ trước cường độ và thời gian của cuộc khủng hoảng.
Lại chuyện dự đoán kinh tế
Tôi nghiêm túc lập lại các lý do tôi không còn làm những dự đoán kinh tế cho Việt Nam là vì (a) các số liệu thống kê toàn dựa trên thành tích và chỉ tiêu thay vì thực tế hay khoa học (b) nền kinh tế ngầm lớn hơn 30% sẽ làm sai lạc mọi kết luận và (c) phần lớn quyết định kinh tế đều xuất phát từ nhu cầu chính trị, trung ương đến địa phương.
Tôi tin rằng ngay cả những quan chức lãnh đạo kinh tế xứ này cũng không chắc chắn về quy trình để hoàn thành quyết định và chính sách hay cả về sự hữu hiệu của việc thực thi. Kiếm một vài tỷ đô la cho ngân sách qua việc mua bán độc quyền vàng và đô la; hay in tiền mà không gây lạm phát (vì suy thoái về tổng cầu quá nặng) không có nghĩa là “vận may” hay các “thủ thuật bùa phép” sẽ có những kết quả tương tự trong tương lai.
Mâu thuẫn của mô hình
Trong khi đó, căn bản yếu kém của nền kinh tế vẫn là một cấu trúc cốt lõi “kinh tế thị trường với định hướng xã hội”. Thực ra, ngay cả các nền kinh tế tự do của Âu Mỹ Úc đều chứa đựng những chất tố lẫn lộn giữa thị trường và xã hội. Nhưng chỉ tại Việt Nam mới có sự áp đặt “tùy tiện” của chính quyền trong vấn đề thực thi.
Như bất động sản, để bảo vệ quyền lợi cho các đại gia BDS, chúng ta để giá cả nhẩy múa thăng tiến theo giá thị trường. Khi dân không đủ tiền để trả giá cao như vậy thì chánh phủ bơm ngay 30,000 tỷ đồng ngân sách để cứu trợ. Khi ngân hàng kiếm tiền vô tội vạ bằng cách cho vay bừa bãi không kể đến rủi ro, chúng ta tôn vinh quy luật thị trường. Khi nợ xấu đe dọa sự sống còn của vài ngân hàng, chính phủ phát trành trái phiếu quốc gia với mệnh giá 100% để chuyển đổi dùm nợ xấu. Mọi ngành nghề khác trong nền kinh tế đều được quản lý tương tự.
Thông điệp của chánh phủ khá rõ ràng,” chúng ta sẽ cứu vài nhóm giàu có quyền lực bằng tiền thuế của toàn dân”. Điều này được biện minh là sự sụp đổ của nhóm nhỏ sẽ kéo theo sự sụp đổ chung của mọi người; do đó, nếu lấy 330 ngàn đồng mỗi người (nghèo đi không bao nhiêu), chúng ta sẽ có 30 ngàn tỷ đồng để kích cầu và phục hồi BDS.
Nhân cách suy nghĩ này lên 100 lần cho các gói cứu trợ khác, chúng ta sẽ có một bức tranh khá chính xác về nền kinh tế Việt Nam. Danh từ để gọi mô hình kinh tế vĩ mô này là “dở dở ương ương” hay “nửa đực nửa cái, nửa đồng bóng”.
Giải pháp rất đơn giản
Thực ra giải pháp cho sự phục hồi của nền kinh tế rất đơn giản nếu các nhà lãnh đạo xác quyết một con đường sẽ chọn. Nếu đây là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, thì việc đầu tiên là bán hết các doanh nghiệp nhà nước qua các cuộc đấu giá quốc tế công khai minh bạch. Ước lượng của một công ty kiểm toán đa quốc là ngân sách sẽ thu về khoảng 70 tỷ đô la. Ngoài tiền bạc, hiệu ứng lớn nhất là niềm tin sẽ quay trở lại với các nhà đầu tư nội cũng như ngoại. Với 60 tỷ đô la trong dân và khoảng 30 tỷ FDI, dòng tiền sẽ khai thông phần lớn bế tắc hiện nay, kể cả BDS.
Nếu chúng ta nhất quyết giữ mô hình kinh tế chỉ huy, thì việc đầu tiên là đánh thuế thật nặng các doanh nghiệp và đại gia tư nhân, đẩy dòng tiền về các dự án xã hội, hạ tầng và để cho các doanh nghiệp nhà nước đầu tư tràn lan. Hậu quả là nạn lạm phát bùng nổ mạnh, mọi người dân sẽ nghèo đi một ít, tiêu dùng sẽ co cụm, GDP suy giảm, nhưng tựu trung xã hội sẽ thâu ngắn khoảng cách giầu nghèo, chánh phủ sẽ nắm chặt quyền bính và chúng ta có ổn định kiểu bao cấp. Viễn cảnh cũng nhận được khá nhiều ủng hộ từ 3 triệu công chức và gia đình. Họ muốn quên chuyện biển lớn để ta có thể về tắm ao ta. An toàn hơn.
Lựa chọn nào thì cũng cần một quyết tâm chánh trị và một sự ban phép về quyền lực từ trung ương. Tôi hoàn toàn không có thông tin nội bộ, cũng không là thầy bói biết số tử vi của các lãnh đạo để đoán mò. Cho nên, tôi thực tình không biết bao giờ thì chúng ta mới bắt đầu một chu kỳ phục hồi. Cũng có thể tương quan quyền lực sẽ không cho phép một đổi thay gì và chúng ta sẽ dậm chân tại chỗ trong vài năm tới?
Con thiên nga đen
Tuy nhiên trong 2 cuộc hội thảo vừa rồi, tôi có dịp thảo luận phân tích tình hình với anh Trương Đình Tuyển, cựu bộ trưởng. Anh vừa được thủ tướng bổ nhiệm làm đặc sứ trong cuộc đàm phán TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương) ở Peru. Theo dự tính, nếu Việt Nam gia nhập TPP sau khi quốc hội Mỹ thông qua, GDP của Việt Nam có thể tăng trưởng 11% trong khi xuất khẩu gia tăng 26% mỗi năm. Đây sẽ là một cú hích quan trọng tương đương với việc gia nhập WTO.
Vài ba rào cản khá lớn trong tiến trình này:
-          Vì các điều khoản mậu dịch và mục tiêu của 12 nước thành viên chứa nhiều khác biệt, hiệp định sẽ không hoàn tất vào cuối 2013 như dự định mà có lẽ phải dời đến cuối 2014.
-          Hiệp định là một thủ thuật của Mỹ để kéo vài nước ASEAN và Nhật khỏi ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc (và từ đó, địa chánh trị). Gần như 80% thương mại và sản xuất của Việt Nam tùy thuộc vào Trung Quốc. Chắc chắn Trung Quốc sẽ không khoanh tay ngồi yên nhìn Mỹ lấy mất miếng mồi béo bở này.
-          Những điều kiện đòi hỏi từ các thành viên là sự minh bạch của quy chế thị trường, khó thực thi cho bối cảnh Việt Nam.
-          Quốc hội Mỹ quàng thêm điều kiện tự do và nhân quyền vào hiệp định. Dù chánh phủ Mỹ coi Việt Nam như đồng minh chiến lược (Đại sứ David Shear tuần rồi đến Little Saigon để “dân vận” cộng đồng Việt kiều), chưa chắc Obama sẽ có sự đồng thuận mong muốn.
Nếu TPP được thông qua với Việt Nam là thành viên vào cuối 2014, tôi nghĩ kinh tế Việt sẽ phục hồi mạnh mẽ vào giữa 2014. Hai quỹ đầu tư lớn của Mỹ dường như đánh cuộc vào kịch bản này khi KKR rót vào Masan 200 triệu USD và Warburg Pincus theo gương, đầu tư 200 triệu USD vào Vincom Retail.
Trong khi đó, chúng ta vẫn phải tiếp tục xin Ơn Trên phù hộ.
Alan Phan
P.S. Một câu hỏi bên lề hội thảo là gói kích cầu 30 ngàn tỷ chủ chánh phủ có thể vực dậy ngành BDS đang ngủ đông? Câu trả lời của Alan: KHÔNG.