Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

“Quả bom” bất động sản sẽ nổ tung

Giá BĐS phải giảm thêm 30% mới xuống đáy và giảm 30% nữa để xuyên đáy rồi mới hồi phục.
 >> Cuối năm, thị trường bất động sản sẽ ra sao?
 >> "Chưa nhìn thấy dấu hiệu đi lên của thị trường bất động sản"

Bất động sản (BĐS) đóng băng, nhiều căn hộ giảm giá hết đợt này đến đợt khác. Liệu khi buộc phải “phá giá” như vậy doanh nghiệp (DN) BĐS có lỗ? Hay bong bóng BĐS được thổi phồng lên quá mức nên khi xì hơi cỡ nào DN vẫn lãi?
 
Tiến sỹ Alan Phan
Tiến sỹ Alan Phan
Quý III, BĐS sẽ chạm đáy
Ông nhận định như thế nào về thực trạng giá BĐS hiện nay?
 
TS Alan Phan: Giá thị trường BĐS luôn dựa trên vấn đề thuận mua vừa bán. Suốt thời gian dài vừa qua, BĐS ở Việt Nam bị thổi lên cao hơn giá trị căn bản gấp nhiều lần. Khi áp suất trong bong bóng quá cao sẽ xảy ra tình trạng nổ hoặc xì hơi từ từ. Nhưng dù nổ hay xì hơi thì quả bóng này cũng phải trở về thực trạng của nó.
Vậy giá nào thì BĐS về với thực tế?
Tính từ thời điểm này, tôi dự đoán BĐS phải xuống thêm 20%-30% nữa mới về đúng những yếu tố căn bản (cung cầu, khả năng của người mua và tâm lý chung). Đây là đáy bền vững. Tuy nhiên, vì BĐS chịu tác động bởi yếu tố “bầy đàn”, khi giá tăng thì tranh nhau mua vào, giá xuống thì ai cũng đợi xuống thêm. Thêm vào đó, nhiều nhà đầu tư đang kẹt vốn và các BĐS do ngân hàng tịch thu phải đem ra bán tháo. Từ đây sẽ tạo ra xu hướng đi xuống sâu hơn đáy. Theo kinh nghiệm về bong bóng BĐS ở các nước, sau khi xuống đáy thì phải cộng thêm 30% độ giảm vì sự xuyên đáy này. Như vậy sang quý II-2013 nó sẽ chạm đáy và hai năm tiếp sẽ xuyên đáy.
Nhưng rất nhiều căn hộ đã giảm từ 30% thậm chí 40%-50% rồi vẫn không có người mua, thưa ông?
Điều đó cho thấy giá BĐS chưa trở về thực trạng. Trên thế giới, giá BĐS liên quan tới ba nhân tố chính: nhu cầu, thu nhập và tâm lý. Các yếu tố như địa điểm, lãi suất… cũng quan trọng.
Ở Việt Nam, nhu cầu trong phân khúc trung bình rất tốt vì còn nhiều người chưa có nhà. Tuy nhiên, mức cung đang quá cao, nếu các căn hộ cao cấp có thể giảm giá theo nhu cầu nhà trung bình thì cung cầu sẽ cân bằng.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp bất động sản phải giảm giá để thu hút khách hàng. Ảnh: HTD
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp bất động sản phải giảm giá để thu hút khách hàng. Ảnh: HTD
Mặt khác, tại hai TP lớn là Hà Nội và TP.HCM, tổng thu nhập trung bình của một gia đình khoảng 180 triệu đồng/năm. Nếu mua nhà trả góp trong 20 năm với lãi suất 10%, khả năng họ trả được khoảng 30% trên tổng thu nhập (1 tỉ đồng). Do đó, tính ra giá họ có thể chấp nhận được là 14 triệu đồng/m2 cho một căn hộ 70 m2.
Yếu tố thứ ba, hiện môi trường kinh tế không mấy thuận lợi, niềm tin về thị trường không có. Khách hàng đang hoang mang và họ không biết trong tương lai có thể kiếm được bao nhiêu tiền trong khi lạm phát vẫn là một mối đe dọa lớn. Bởi thế, ngay cả khi giá thị trường về đáy nhưng khách hàng không có niềm tin và bi quan thì cũng khó bán.
Hiện nay có căn giảm xuống 14 triệu đồng/m2 vẫn không có người mua, tại sao vậy?
Như đã nói, vì niềm tin còn thiếu nên khách hàng còn đợi. Thêm vào đó, với giá vàng gia tăng, giá của BĐS cao hơn thực tế nhiều. Tôi nghĩ giá BĐS phải xuyên đáy xuống 10 triệu đồng/m2 thì thị trường mới có thể phục hồi.
Một yếu tố khác là giá trị chung cư khác giá trị nhà mặt phố. Một phần lớn tạo ra giá trị gia tăng là vấn đề quản lý. Đây là lý do Phú Mỹ Hưng bán được các dự án với giá cao.
Làm gì còn tiền để đầu cơ
Việc giảm giá mạnh như thế DN có bị lỗ, ví dụ mới đây một số căn hộ được cho là cao cấp ở quận 7 chỉ bán giá 19 triệu đồng/m2?
Các căn hộ dự án ven quận 7 giảm xuống 19-20 triệu đồng/m2 cũng chỉ là căn hộ trung bình chứ không phải loại cao cấp. Và nó phải xuống còn 13 triệu đồng + VAT +… thành 14 triệu đồng mới đúng.
Còn việc lỗ hay lãi phải tính các khoản phí. DN nào mua đất 5-7 năm trước thì không lỗ nhưng nếu mua khoảng 2-3 năm trở lại đây sẽ lỗ.
Tại thời điểm giá BĐS đang tìm đáy này liệu có còn tình trạng đầu cơ?
Ở môi trường nào cũng có tình trạng đầu cơ. Nhưng các nhà đầu cơ trước đây nay cũng không còn tiền. Ngoài ra, người ta chỉ đầu cơ khi có bong bóng thổi phồng giá, còn khi bong bóng đang xì hơi thì nhanh chân mà tháo chạy.
Vậy theo ông, DN BĐS phải làm gì trong lúc này?
Trừ khi có trường vốn có thể đợi hơn năm năm, DN nào đang đi vay để cầm cự phải bán cho nhanh chứ để lâu còn chết nữa. Ví như thiên hạ chạy khỏi rạp hát trong đám cháy, ai nhanh chân thì thoát, ai chậm sẽ bị đè lên.
Sẽ ra sao nếu DN không thể chạy hoặc chạy không kịp?
 
Hiện giờ các DN BĐS gần như không được phép phá sản vì nợ ngân hàng, nợ khách hàng, nợ nhà xây dựng… thành thử họ đang cố bám trụ chứ không thể tự giải quyết các vấn đề này. Bởi vậy đến một lúc nào đó, quả bom này sẽ phải nổ tung thôi. DN nào không thể bám trụ, cứ để tự phá sản.
Có một giải pháp là Chính phủ quốc hữu hóa các căn hộ để trống rồi giao lại cho các chủ nợ. Ở Mỹ, khi DN phá sản thì tòa án làm chủ, sắp xếp với các chủ nợ để thanh lý. Thành phần tư nhân rất sáng tạo, họ có cách giải quyết êm đẹp dựa trên tinh thần dân chủ và quyền lợi hỗ tương từ nhiều phía.
Bong bóng BĐS trên thế giới xì hơi như thế nào, thưa ông?
Ở Mỹ bong bóng bắt đầu xì hơi từ năm 2007, khi được 30%-40% nó về đáy của giá trị thực. Sau đó, BĐS xuyên đáy thêm 20% nữa, tổng cộng đến nay giảm được 60%. Có lẽ sang năm 2013 BĐS ở Mỹ mới bắt đầu phục hồi. So sánh Việt Nam với các nước Đông Nam Á khác, giá căn hộ trung bình tại Malaysia và Thái Lan chỉ chừng 400-500 USD/m2 (tương đương 10 triệu đồng/m2).
Xin cảm ơn ông.
Hai “quả bom” lớn trong năm 2013
Hiện nay có khoảng 120.000-180.000 căn hộ tồn kho và xây dở dang. Cứ cho là 100.000 căn hộ đã thu tiền đặt cọc, chừng 500 triệu đồng mỗi căn. Tính lại, tổng tiền nợ khách hàng của các DN BĐS chừng 50.000 tỉ đồng, tương đương 25 tỉ USD. Đây là số nợ khủng khiếp. Con số này có thể còn lớn hơn cả nợ xấu ngân hàng. Thế nên trong năm 2013, chúng ta sẽ phải đối mặt với hai “quả bom”: nợ xấu ngân hàng và nợ khách hàng của các DN BĐS.
 
Theo Yên Trang
Pháp luật TP.HCM

Rồng và quái vật?

Cuối thập kỷ 1980, Nhật là một nền kinh tế tăng trưởng mạnh.
Sản lượng của nước này tăng gấp 50 lần, tính theo đôla trong thời gian của một thế hệ, và Nhật đã hầu như đã vượt qua Mỹ để trở thành nước có công nghệ cao nhất. Đối với giới quan sát, chỉ cần khoảng một thập kỷ để Nhật có thể trở thành nền kinh tế lớn nhất và cường quốc thứ ba thế giới.
Tất nhiên, điều đó đã không xảy ra. Thay vào đó, vào năm 1990, thị trường chứng khoán và bất động sản của Nhật sụp đổ một cách ấn tượng, khiến nước này phải chứng kiến hai thập kỷ đình trệ kinh tế.
Sự vươn lên ở mức chóng mặt của con rồng kinh tế Trung Quốc cũng cho thấy sự giống nhau một cách ớn lạnh.
Nhiều nhà bình luận với giọng điệu hoài nghi đã chỉ ra sự tương đồng với Nhật, nói rằng nước này chắc chắn sẽ đi xuống. Nhưng liệu điều này có công bằng?
Chúng tôi so sánh hai quốc gia này với nhau để quý vị có thể quyết định:

Nhật Bản 1990

Trung Quốc 2012


NhậtTrung Quốc
Dân số125 triệu dân hay 2,3% dân số thế giới1,344 tỷ dân hay 19% dân số thế giới
Quy mô kinh tế3,1 nghìn tỷ đôla, 54% GDP Mỹ năm 19907,3 nghìn tỷ đôla, 48% GDP Mỹ hiện tại
Tăng trưởng trung bình6,5% trong 35 năm qua9,9% trong 35 năm qua

Bong bóng kinh tế


Nhật Sự sụp đổ năm 1990-92 khiến giới chứng khoán Tokyo phải kinh hoàng
Trung Quốc Trung Quốc tổ chức lễ khai mạc Olympics phô trương nhất từ trước đến giờ vào năm 2008
Thành tựu:
Các hãng điện tử Trung Quốc sản xuất TV kích cỡ nhỏ nhất trong thập kỷ 80, phô trương sự vượt trội trong công nghệ của mình
  • Trung Quốc xây dựng nền công nghiệp năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới, chiếm vị thế không thể vượt qua trong công nghệ xanh

  • Năm 1988, một bài viết trên tạp chí Time mang tên "Nhật Bản, từ siêu giàu cho đến siêu cường quốc" dự đoán một thách thức mới ở khu vực Thái Bình Dương đối với Mỹ
Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ đứng đầu thế giới vào năm 2016, điều khiến Mỹ phải rùng mình

Việc Sony mua lại hãng Columbia Pictures của Hollywood khiến Mỹ thêm lo ngại rằng Nhật đang mua hết cả California
  • Lầu Năm Góc phải đứng ra làm dịu đi quan ngại trước việc Trung Quốc đang nắm giữ 1,2 nghìn tỷ đôla nợ chính phủ (8% GDP Mỹ) gây nên sự đe dọa đối với an ninh quốc gia

  • Công viên nước trong nhà lớn nhất thế giới được xây tại Miyazaki, bao gồm cả núi lửa giả và nóc nhà kéo lớn nhất thế giới
  • Một bản sao của làng Hallstatt thuộc Áo được Unesco công nhận được xây ở tỉnh Quảng Đông làm địa điểm thu hút khách du lịch
Thị trường chứng khoán
Nikkei Chỉ số Nikkei 225 index qua các năm
Thượng Hải Chỉ số Thượng Hải index qua các năm

Bong bóng chứng khoán kéo dài 5 năm của Nhật bị vỡ, khiến khoản tích lũy của nhiều nhà đầu tư Nhật bị mất trắng.
Thêm vào đó, nhiều công ty đã mua lại đối thủ bị ở giá bong bóng, dẫn đến việc mua cổ phần bằng tiền mượn ở giá bị đội lên cao so với thực tế.
Bong bóng chứng khoán hai năm của Trung Quốc bị vỡ ngay trước thềm khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008
Tuy nhiên bong bóng chứng khoán của Trung Quốc kéo dài ngắn hơn so với Nhật, do đó gây thiệt hại về vật chất cũng ít hơn.
Bất động sản
Index giá nhà Index giá đất định cư khu vực thành thị của Nhật qua các năm.
Số liệu về thị trường bất động sản của Trung Quốc không được thống nhất.
Giá bất động sản sụt giảm gây thiệt hại nặng cho các doanh nghiệp và người dân Nhật bỏ tiền vay mượn ra mua nhà lúc kinh tế còn tăng trưởng mạnh.
Giá nhà ở Bắc Kinh tăng gấp ba lần vào giữa 2003 và 2011, trong khi tại Thượng Hải là hơn bốn lần, theo một nghiên cứu mới nhất.
Tại Trùng Khánh, nơi in đậm dấu ấn của ông Bạc Hy Lai, giá nhà tăng gần bảy lần.
Sự tăng trưởng giá nhà không hề hợp lý, khi so sánh với thu nhập của người mua và tiền thuê có thể kiếm được từ nhà mua.
Ngành xây dựng nhà cửa phát triển mạnh, nất là sau khi chính phủ kích thích tăng trưởng kinh tế vào năm 2008.
Có nhiều câu chuyện kể về những dự án ma không có người ở
Từ năm 2011, giá nhà và xây dựng bắt đầu có dấu hiệu trượt dốc một cách khủng khiếp, mặc dù hầu hết những dữ liệu mới nhất cho rằng thị trường đã chạm đáy.
Rất ít người Trung Quốc dám sử dụng những khoản thế chấp lớn để mua nhà.
Tuy vậy, những nhà thầu dự án lớn thường vay mượn mạnh tay, và chính quyền địa phương cũng phụ thuộc vào việc bán đất để kiếm tiền. Cả hai điều này đều chịu ảnh hưởng nặng của sự đóng băng thị trường bất động sản
Cơ sở hạ tầng
Đầu tư chính phủ vào cơ sở hạ tầng tăng mạnh sau khi thị trường bất động sản và chứng khoán vỡ bong bóng sau khủng hoảng kinh tế, điều này sản sinh ra nhiều dự án gây lãng phí, bị châm biếm là "những cây cầu không dẫn tới đâu". Những công trình đáng chú ý gồm có:
Chính phủ Trung Quốc tăng chi tiêu vào mảng cơ sở hạ tầng nhằm chống chọi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Những công trình đáng chú ý gồm có:
Đường hầm tàu (đường ray Seikan dài 54 km được xây vào năm 1988) dài nhất thế giới và cầu treo dài nhất (cầu Akashi Kaikyo dài 3,9 km được xây vào năm 1998)
  • Ba cầu vượt biển dài nhất thế giới, và 6 trong số 10 cảng container lớn nhất thế giới
  • Tàu siêu tốc, khánh thành vào năm 1959 và được mở rộng vào năm 1980
  • 10 nghìn km đường ray cao tốc từ năm 2008 đến năm 2011 (dài hơn năm lần cả mạng lưới TGV của Pháp), phần lớn được xây trong sự vội vã của các quan chức tham nhũng, lý do khiến vụ tai nạn thảm khốc năm 2011 ở tỉnh Chiết Giang
  • Sân bay quốc tế Kansai được xây vào đầu thập kỷ 1990 trên một đảo nhân tạo tại vinh Osaka, vốn đã có dấu hiệu bắt đầu chìm
85 nghìn km các đường cao tốc hoàn thành tính đến năm 2011, nhiều hơn nhiều so với hệ thống đường cao tốc của Mỹ
  • Con đê trị giá 2 tỷ đôla ở vịnh Isahaya được xây vào năm 1990, với cống tháo nước hiện tại đang mở, làm lụt khu vực đất nông nghiệp, đồng thời gây thiệt hại nặng cho ngư dân xung quanh
  • Những sân vận động Olympics lớn nhất trong lịch sử được xây, trong đó có cả sân Tổ Chim của Bắc Kinh, bây giờ được sử dụng làm đường đua Segway và phần lớn thời gian không được sử dụng

Sự mất cân bằng


Nhật Người Nhật lẽ ra đã có thể nhìn ít đi và mua nhiều hơn
Trung Quốc Nhà sản xuất và xuất khẩu lớn nhất thế giới
Xuất khẩu
Thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật: 4,3% tổng sản phẩm quốc nội năm 1987
Sự thành công của ngành xuất khẩu Nhật vào thập niên 80 làm kinh ngạc phương Tây, dẫn đến Hiệp định năm 1985, với việc Nhật đồng ý để đồng Yên mạnh hơn so với đôla.
Tuy nhiên mặc dù chấp nhận bất lợi trong tỷ giá tiền tệ, xu hướng phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu của Nhật vẫn được tiếp tục và khiến nước này có được thặng dư tài khoản vãng lai bằng 4,8% GDP vào năm 2008
Thặng dư tài khoản vãng lai Trung Quốc: 10,6% tổng sản phẩm quốc nội
Nước này hiện vẫn đang chịu nhiều cáo buộc, nhất là từ Mỹ, vì đã thao túng đồng Nhân Dân Tệ, đem lại tỷ giá rẻ hơn so với đồng đôla một cách trái phép.
Từ đó trở đi, Trung Quốc đã cho phép đồng tiền của mình tăng giá 9% và liên tục tăng mức lương trung bình của người dân để giảm tính cạnh tranh.
Sau động thái này, thặng dư tài khoản vãng lai của Trung Quốc rút xuống còn 3% GDP.
Tuy nhiên lý do chính cho điều này còn là vì nhu cầu của phương Tây đối với hàng hóa của Trung Quốc đang giảm đi, trong lúc nhu cầu nhập khẩu vật liệu cho ngành xây dựng đang phát triển trong nước ngày càng cao
Chi tiêu Chi tiêu của người tiêu dùng đóng góp 53% cho nền kinh tế Nhật vào năm 1990, so với khoảng 70% của phương Tây.
Chi tiêu ở dạng đầu tư (căn hộ mới, giáo dục, v.v) đóng góp 32%.
Khi thời kỳ tăng trưởng đầu tư bắt đầu dừng lại, chính phủ Nhật đã phải kêu gọi người dân tăng cường chi tiêu nhanh để bù vào khoản bị thiếu
Chỉ có 34% chi tiêu của Trung Quốc là từ người tiêu dùng trả cho hàng hóa và dịch vụ
48% chi tiêu là từ đầu tư.
Nói một cách khác, sự mất cân bằng cơ bản tại Trung Quốc ngày nay lớn hơn Nhật hai thập kỷ trước.
Một số kinh tế gia nghĩ rằng điều này có nghĩa là Trung Quốc sẽ phải thúc đẩy chi tiêu trong nước mạnh mẽ nếu như muốn tránh khỏi đình trệ kinh tế như Nhật
Tập quán tiết kiệm Các hộ gia đình Nhật thường tiết kiệm khoảng 10% thu nhập trong năm 1990.
Chính phủ đã phải kêu gọi người dân tiết kiệm ít đi và tăng chi tiêu.
Tuy nhiên cũng đã phải mất 10 năm để mức tiết kiệm này xuống thấp bằng mức thông thường ở phương Tây.
Trong thời gian đó, nền kinh tế Nhật bị đình trệ
Các hộ gia đình Trung Quốc tiết kiệm đến 25% tiền thu nhập.
Mức tiết kiệm cao là do tiền lệ tiết kiệm để chi tiêu cho một gia đình lớn, trong đó có chi phí giáo dục cho trẻ em trong nhà, trả chi phí thuốc men cho người già và những thành viên đã về hưu trong gia đình.

Những giới hạn


Osaka Sân bay quốc tế Kansai đã bắt đầu chìm từ lâu
Trung Quốc Chính sách một con của Trung Quốc còn được gọi là chính sách "bốn ông bà cho một cháu"
Kinh tế toàn cầu
Sau thời kỳ đình trệ đầu thập niên 90, kinh tế toàn cầu tăng trưởng mạnh hơn một thập kỷ, giúp duy trì thế mạnh xuất khẩu của Nhật Trung Quốc hiện đang phải đối mặt với nhiều thử thách hơn.
Các thị trường xuất khẩu chính của nước này, trong đó có Mỹ, Châu Âu và Nhật đang chịu nhìu khó khăn, đồng thời việc tài khoản vãng lai của Trung Quốc tiếp tục có thặng dư gây nhiều bất đồng chính trị từ các nước này (nhất là Mỹ)
Nợ xấu Công nghiệp của Nhật và ngành ngân hàng bị tràn ngập bởi nợ xấu
Nhiều khoản vốn vay được sử dụng để mua đất, nhà ở và các công ty khác ở 'giá bong bóng'.
Giữa năm 1992 và 2005, các ngân hàng của Nhật phải đối diện với nợ không đòi được ở mức 19% tổng sản phẩm quốc nội.
Để giúp duy trì nền kinh tế, chính phủ Nhật đã phải huy động các khoản nợ bằng 230% GDP.
Nỗ lực của chính phủ nhằm duy trì tăng trưởng sau năm 2008 khiến các ngân hàng được sở hữu bởi nhà nước phải tăng cường cho vay.
Trong 12 tháng trước tháng Mười năm 2008, các ngân hàng đã cho vay tổng cộng 1,5 nghìn tỷ đôla, bằng 30% tổng sản phẩm quốc nội.
Hệ thống tài chính của Trung Quốc cũng đã bị cáo buộc là cho vay nhiều khoản nợ ngầm.
Một ví dụ như trong năm 2011, có nhiều cáo buộc cho rằng các chính quyền địa phương đã vay 2,2 nghìn tỷ đôla, rất nhiều các khoản này không được công khai.
Triển vọng tăng trưởng Vào năm 1990, Nhật đã là một nước phát triển mạnh.
Đóng góp kinh tế của mỗi công dân Nhật bằng 83% mức trung bình một người Mỹ.
Khi chính phủ cố gắng thúc đẩy kinh tế trong thập niên 90 bằng việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng, khó khăn lớn nhất đó là hầu hết cơ sở hạ tầng cần thiết bấy giờ đều đã được xây
Trung Quốc vẫn là một nước nghèo.
Đóng góp vào kinh tế của một người dân Trung Quốc chỉ bằng 17% mức trung bình một người Mỹ.
Một nửa dân số vẫn sống dựa vào nông nghiệp và chưa có cơ hội đến các thành phố nơi họ có thể đóng góp nhiều hơn bằng việc làm trong ngành công nghiệp
Vì vậy Trung Quốc có nhiều cơ hội để giải quyết các vấn đề hiện tại hơn Nhật trước đây.
Độ tuổi dân số Tỷ lệ dân số lao động hiệu quả của Nhật, từ 15-65 tăng cao nhất trong đầu thập niên 90.
Trước thời điểm đó, dân số tăng trưởng đều, với những người đi làm đều phải chăm sóc ít con hoặc bố mẹ đã nghỉ hưu.
Những người công nhân tuổi cao hơn được nhận bổng lộc cao để tích lũy cho lúc về hưu, dẫn đến tăng trưởng đầu tư và bong bóng thị trường.
Kể từ thập niên 90, số lượng công nhân nghỉ hưu mà nền kinh tế phải hỗ trợ tăng đều, từ 12% đến 23% dân số. Trong khi đó dân số Nhật đang có xu hướng giảm đi.
Nhờ vào hệ thống một con, đưa vào từ năm 1978, Trung Quốc cũng đã có 30 năm phát huy được thế mạnh của đội ngũ công nhân lao động hiệu quả không phải chăm sóc cho nhiều con cái và bố mẹ.
Tuy nhiên hiện tại Trung Quốc đang rơi vào giai đoạn thay đổi tỷ lệ độ tuổi mà Nhật đã trải qua trong năm 1990.
Giới chức trách Nhật đã cảnh báo rằng Trung Quốc có thể đối mặt với những vấn đề tương tự của nước này, trong đó có dân số lão hóa, khiến công dân cao tuổi cần chăm sóc tăng lên và khả năng khủng hoảng nếu như người già không đủ sức chi trả lúc nghỉ hưu.
Chính phủ Nhật là nước dân chủ, những cũng là nước với thể chế độc đảng suốt lịch sử hậu chiến.
Nhiều năm qua, đảng Dân chủ Tự do Nhật (LDP) đã chiếm quyền điều hành bằng cách sử dụng tiền để làm vui lòng các đảng phái và người bầu cử.
Sau vụ vỡ bong bóng năm 1990, chính phủ dùng cùng một cách mà họ vẫn dùng với các dự án cơ sở hạ tầng lớn - các cầu và trường học được xây dựng ở bất cứ nơi nào có lợi ích chính trị.
Trong bối cảnh người dân ngày càng trở nên khó chịu với sự đình trệ kinh tế, đảng LDP đã phải nhường chỗ cho một hệ thống cạnh tranh giữa đa đảng thực sự.
Tuy nhiên, cũng phải đến năm 2009 phe đối lập mới thực sự có một cuộc thắng lợi qua tuyển cử lần đầu tiên.
Trung Quốc là nước theo thể chế độc đảng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc không cho phép một chỉ trích hay sự đối lập nào xảy ra.
Thiếu vắng sự giám sát và cân bằng đã dẫn đến nạn tham nhũng ăn sâu và sự phẫn uất từ công chúng với những quyền lợi đặc biệt mà những người cầm quyền được hưởng.
Khoảng cách thu nhập của Trung Quốc cao ở mức báo động, có thể cao bằng Mỹ.
Quyền lực của Trung ương Đảng cũng hết sức hạn chế.
Chính phủ Trung Quốc được vận hành bởi Ủy ban thường vụ, đại diện cho những nhóm lợi ích khổng lồ, từ thành viên các gia đình quyền lực và những phe phái kiểm soát phần lớn tài sản quốc giám, theo một tin cáp của sứ quán Mỹ đăng trên Wikileaks.
Kích cỡ địa lý khổng lồ của Trung Quốc và sự thiếu minh bạch trong hệ thống cũng đồng nghĩa với việc chính phủ trung ương bị giới hạn trong việc kiểm soát hoạt động của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh.
                                                 theo BBC

'Bất động sản cần 6 năm để phục hồi'

Theo chuyên gia quốc tế John Sheehan, địa ốc không đủ khả năng tự cứu mình nên cần có sự can thiệp mạnh, đúng thời điểm của Chính phủ. Hiện tại, giá bất động sản chưa về thực nên nhà đầu tư cần chờ đợi.
> Cứu địa ốc là vực dậy hàng trăm ngành liên quan
Ông John Sheehan là một chuyên gia quốc tế rất am hiểu về các danh mục vay của ngân hàng. Ngoài ra, ông là thành viên Tổ chức giám định bất động sản Hoàng Gia (FRICS) của Anh. Ngày 28/2, ông đến Việt Nam và có cuộc trao đổi với báo giới về tình hình thị trường bất động sản cũng như vấn đề về nợ xấu.
- Nợ xấu bất động sản khoảng 1,34 tỷ đôla, còn nợ xấu của Việt Nam khoảng 12 tỷ đôla. Ông đánh giá thế nào về những con số này?
- Ở những thị trường minh bạch thì con số thực của nợ xấu được công bố thường là gấp đôi so với số liệu công bố. Ở thị trường không minh bạch, con số này thường gấp 4 lần. Vậy tôi phải nói, con số nợ xấu được công bố không có ý nghĩa nhiều.
Đơn cử, ở Thái Lan, năm 1996, người ta công bố tỷ lệ nợ xấu là 5%, đến khi khủng hoảng con số này là 50%. Ở Ireland, năm 2007 tỷ lệ nợ xấu được công bố là 8% nhưng đến năm 2010 khi khủng hoảng thì tăng vọt lên 30%. Thực tế, thị trường mới là vua. Nợ xấu được thực sự giải quyết khi thị trường có dấu hiệu được khôi phục.
Ảnh: Hoàng Lan
Chuyên gia quốc tế John Sheehan. Ảnh: Hoàng Lan
- Lãi suất mua nhà ở nhiều nước rất thấp trong khi ở Việt Nam thì ngược lại, theo ông vì sao lại có sự khác biệt này?
- Thực tế, tôi thấy không có gì lạ. Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn bắt đầu, cũng giống như ở một số nước vào thời điểm trước những năm 2007. Đơn cử như ở Thái Lan, năm 2007 lãi suất cho vay đối với bất động sản 18% còn ở Philippines là 16%. Hiện nay chính phủ đã có những bước phù hợp để điều chỉnh lãi suất cho vay bất động sản theo hướng giảm dần. Thực ra Việt Nam vẫn còn là nền kinh tế non trẻ, tỷ lệ lãi suất ngân hàng cao cũng là theo quy luật tự nhiên.
- Hiện có hai luồng ý kiến trái chiều, một là để thị trường bất động sản tự thanh lọc và quan điểm kia là Chính phủ cần có các giải pháp tháo gỡ, ông nghiêng về ý kiến nào?
- Tôi cho rằng cần có sự can thiệp của Chính phủ. Thị trường bất động sản không đủ khả năng để tự cứu mình. Tôi có thể lấy dẫn chúng ở một số các nước láng giềng của Việt Nam để cho thấy sự can thiệp đúng thời điểm của Chính phủ đóng vai trò quan trọng thế nào. Năm 1997, cả Thái Lan và Philippines đều phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính. 1 năm sau, Thái Lan nhờ IMF can thiệp, còn chính phủ Philippines tự quyên góp tiền bán trái phiếu để giải quyết vấn đề vào năm 2002. Như vậy cuộc giải cứu ở Thái Lan chậm hơn Philippines 4 năm và nền kinh tế Philippines cũng chậm hơn Thái Lan 4 năm. Điều này cho thấy sự can thiệp của Chính phủ càng lớn thì sự khôi phục của thị trường càng nhanh.
- Ông đánh giá thế nào về giải pháp cho cho vay mua nhà xã hội để cứu thị trường bất động sản với lãi suất thấp hơn rất nhiều so với nhà thương mại?
- Tôi nghĩ đây là giải pháp tốt để hỗ trợ cho thị trường bất động sản nhưng lại không giúp nhiều cho ngân hàng.
- Theo ông, mất bao lâu, thị trường bất động sản mới hồi sinh?
- Thời gian trung bình để khôi phục thị trường bất động sản sau khi có những biện pháp điều chỉnh trung bình khoảng 6 năm và bất động sản sẽ mất 60% về mặt giá trị. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phủ nhận thường kéo dài khoảng 2 năm. Còn những vấn đề về nợ xấu trên thị trường kéo dài 4 năm. Theo quan điểm của tôi, Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu tiên là giai đoạn phủ nhận, chúng ta phải chấp nhận thực tại đã.
- Ông có lời khuyên gì cho người mua nhà tại thời điểm này?
- Nên mua hay không là do quyết định của từng người nhưng về cá nhân tôi, thời điểm này tôi sẽ chưa mua nếu không có nhu cầu thực sự. Giá để đầu tư vào nhà ở hiện nay thì mức giá không phải là mức giá thật. Người mua nên chờ đợi.
Hoàng Lan

Bất thường trong thống kê kinh tế Việt Nam

Các chuyên gia cho rằng nếu cứ "nặn" số liệu cho đẹp, nhà điều hành không thể biết thể trạng kinh tế đang ốm tới đâu và sẽ không thể cứu chữa khi bệnh trở nên di căn, bộc lộ ra ngoài.
> Chuyên gia chê tiến độ tái cơ cấu kinh tế quá 'rùa'
> 'Kinh tế có xu hướng xấu đi trên nhiều phương diện'
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh dẫn lại công thức tính GDP dựa trên tổng mức tiêu dùng cộng với đầu tư, xuất khẩu và trừ đi nhập khẩu. Theo công thức này, việc tính toán để cho ra con số GDP quý I ở mức 4,89% không thuyết phục. Dư nợ tín dụng 3 tháng tăng không đáng kể 0,03% nhưng đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước lại tăng tới 11%. Sự bất hợp lý thể hiện ở chỗ tăng trưởng tín dụng gần như dậm chân tại chỗ mà dòng vốn chảy vào doanh nghiệp lại gấp nhiều lần.
“Doanh nghiệp lấy vốn ở đâu trong phần lớn doanh nghiệp đều lệ thuộc vào vốn ngân hàng”, ông Trinh băn khoăn.
Các chuyên gia cho rằng số liệu thống kê GDP không thuyết phục. Ảnh: AFP
Các chuyên gia cho rằng số liệu thống kê GDP không thuyết phục. Ảnh: AFP
Một nghịch lý nữa là xuất khẩu được công bố tăng 19,7%, nếu loại trừ yếu tố giá sẽ tăng tới 25%, tức giá xuất khẩu đã giảm khoảng 5%. Nhưng thực tế chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I năm nay so với cùng kỳ tăng 6,9%. Nếu số liệu đúng, điều này có nghĩa giá bán cho các nước giảm 5% còn mức giá bán cho tiêu dùng trong nước lại tăng cao. Đây là bất hợp lý thứ 2 trong thông số GDP. Chưa kể, giá so sánh với hiện nay lấy giá cơ sở của năm 2010 nên số liệu khó phản ánh chính xác thực trạng hiện tại.
Ông Trinh đặt câu hỏi: “Liệu có cần theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu đến mức phải bán cho thế giới với giá rẻ, còn người dân lại chịu giá đắt”.
Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cũng thắc mắc, mọi năm, tăng trưởng tín dụng khoảng 30%, GDP mới tăng 6%, Nay tăng trưởng tín dụng quá bé nhỏ chưa tới 1% mà tăng trưởng GDP vẫn gần 5% là điều khó hiểu và các chuyên gia cũng chẳng thể lý giải.
“Chẳng lẽ Việt Nam không cần cung ứng tín dụng vẫn có thể tăng trưởng”, ông Doanh hoài nghi.
Theo ông, chuyện số liệu thống kê không chính xác vốn tồn tại nhiều năm nay, nhưng trong tình hình khó khăn hiện nay, nó sẽ ngăn cản nỗ lực phục hồi kinh tế. Không có số liệu chính xác, nhà điều hành không biết con bệnh đang ốm tới cấp độ nào, nên rất khó kê toa, tới khi chỗ nào cũng “đau” thì muốn cứu cũng quá muộn.
Số liệu thất nghiệp năm 2012 thấp nhất nhiều năm qua cũng khiến ông Doanh đặt dấu hỏi. Trong 2 năm 2011, 2012, cả nước có hơn 100.000 đơn vị đóng cửa, cao hơn hẳn các năm trước nhưng tỷ lệ thất nghiệp chỉ 2,2%, ít nhất trong nhiều năm. Quý I có thêm 15.000 công ty phá sản. Thực tế, những lao động này họ đã đi đâu, trong khi số doanh nghiệp lập mới không bao nhiêu. Nguyên nhân có thể do nhiều doanh nghiệp không làm thủ tục giải thể và báo cáo cơ quan chức năng. Một mặt họ đang nợ đầm đìa nên không dám tuyên bố đóng cửa để tránh chuyện bị xiết nợ. Mặt khác, họ cũng cần thu hồi nợ đọng nên “án binh bất động”, không sản xuất cũng chẳng tuyên bố chấm dứt. Thế nhưng, không có báo cáo này đề cập tới chuyện này. Số doanh nghiệp đóng cửa, giảm sản xuất có thể còn cao gấp nhiều lần công bố chính thức.
Ông Doanh cho rằng, số liệu công bố nếu không chính xác sẽ chẳng giúp ích cho ai, có chăng chỉ để các cấp, ngành khen lẫn nhau. Chính việc dựa trên những con số “ảo tưởng” nên các quyết định can thiệp thường đưa rất muộn, không phản ánh tính cấp bách của thực tiễn. Ông lấy ví dụ: tình hình bết bát của Vinashin vốn đã có từ lâu nhưng nhiều lần thanh tra, kiểm soát vẫn không phát hiện. Nhiều vị đặt mục tiêu đưa Tập đoàn này thoát khỏi thua lỗ kể từ 2013, nhưng đến nay ai cũng nhận thấy điều này hoàn toàn không thể.
Lãnh đạo một doanh nghiệp có mặt ở Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân cũng khẳng định ông luôn hoài nghi về các con số, bởi nó đa phần là những báo cáo mang tính hình thức, kiểu làm cho có mà các cấp “nặn” cho đẹp. “Rõ ràng thông điệp tăng trưởng quý I tốt hơn cùng kỳ và lạm phát thấp nghe qua có vẻ khả quan, nhưng phân tích kỹ có quá nhiều điểm nghi hoặc trong đó”, ông nhận xét. Khi các chỉ báo không đúng, những phân tích, kiến nghị cũng chỉ “nghe cho vui” và vô hình chung chẳng tháo gỡ gì khó khăn cho doanh nghiệp mà chỉ khiến tình hình trầm trọng thêm.
“Doanh nghiệp không chỉ đối phó với chuyện chính sách vĩ mô không ổn định, thay đổi liên tục, mà còn thiếu niềm tin vào các số liệu công bố sẽ khiến tình trạng giảm sút niềm tin trong giới kinh doanh ngày càng trầm trọng”, ông nói.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, số liệu nhiều khi khác nhau “một trời một vực” đến mức gây sửng sốt và đáng kinh ngạc giữa các địa phương, bộ ngành, dẫn tới chuyện tốc độ tăng GDP của cả nước chỉ bằng hai phần ba mức tăng trưởng của các địa phương do tỉnh thống kê.
Số liệu về nợ xấu và tồn kho bất động sản cũng chẳng đáng tin cậy nên không thể xây dựng chiến lược đúng để giải quyết vấn đề hay xác định nền kinh tế cần bao nhiêu vốn và phải mất bao nhiêu thời gian để giải quyết triệt để. Trong trường hợp này, việc dựa vào những con số không chuẩn để xử lý vấn đề luôn luôn chứa đựng rủi ro và nguy cơ rất lớn cho quá trình phục hồi.
“Có sơ sở để khẳng định rằng chính nền kinh tế nước ta đang rơi đúng vào tình thế đó. Điều đáng tiếc là cho đến giờ này, khi tình hình đã thực sự là khẩn cấp, dường như vẫn chưa có một nỗ lực nào nghiêm túc, bài bản để giải quyết vấn đề này”, ông Thiên nhận định.
Với các con số việc làm mới được tạo ra, theo ông Thiên, bất kể năm khó khăn hay thuận lợi, đều đại thể như nhau, gần tương đương với số lao động mới gia nhập vào lực lượng lao động của đất nước. Cách xử lý vấn đề mang tính hình thức như vậy vừa không tạo được niềm tin vào hệ thống thông tin và thống kê phát triển, vừa gây ra những ảo tưởng thành tích lúc nào cũng “hồng hào” của nền kinh tế.
Mối tương quan giữa số liệu tăng trưởng tín dụng với tốc độ tăng GDP hiện tại cũng gây ra những điểm nghi vấn tương tự. Theo ông Thiên, trong một nền kinh tế mà tăng trưởng GDP phụ thuộc quyết định vào lượng vốn đầu tư, điểm lạ lùng của mấy năm gần đây là trong khi hầu như không có bất cứ sự cải thiện nào ở các chỉ tiêu hiệu quả. Việc sụt giảm rất mạnh mức tăng trưởng tín dụng hầu như không ảnh hưởng gì lắm đến tốc độ tăng trưởng GDP.
vnepress.net

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Nền kinh tế đang suy kiệt

- Việt Nam dường như đang lựa chọn cho mình một con đường đi nhỏ bé, gập ghềnh, chậm chạp... để tránh con đường lớn bằng phẳng nhưng phải vượt đèo cao.
Đây là nhận xét về hướng đi của nền kinh tế Việt Nam hiện tại và trong tương lai trong Báo cáo kinh tế thường niên 2013 của nhóm soạn thảo thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội.
Thất bại về chính sách
Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2013 mang tên "Trên đường gập ghềnh tới tương lai" cho rằng, những vấn đề trọng tâm của chính sách năm 2012 chưa đạt như kỳ vọng, có thể nói, đây là năm không thành công về thực thi những ý tưởng chính sách đã đề ra trong năm 2011 và trước đó. Tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng hầu như không đạt được bước tiến nào đáng kể.
Các đề án quan trọng như tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, xử lý nợ xấu đã không được thông qua. Các biện pháp tài khóa chưa đạt được hiệu quả vì do dự trong quyết định chính sách. Điều này làm mất đi cơ hội quý báu và năm 2013 đang phải trả giá. Có lẽ hết 2013 kinh tế vẫn chưa đạt được những hiệu quả tích cực.
cải cách kinh tế, chính sách, nợ xấu, tồn kho, suy giảm.
  Sức mua thấp khiến hàng hóa tồn kho nhiều, DN hết sức khó khăn
Lạm phát tương đối thấp, nhưng nguy cơ về giảm phát đang hiển hiện. Toàn bộ nền kinh tế đang ở trạng thái suy kiệt, khi cả đầu tư và tiêu dùng cá nhân tiếp tục bị thu hẹp. Trên thị trường các điểm nghẽn như nợ xấu, hàng tồn kho chưa được khai thông, khu vực bất động sản đông cứng và suy giảm, môi trường kinh doanh suy yếu buộc hàng vạn DN rời bỏ thị trường, cuốn đi thành quả của nhiều năm cải cách.
Các giải pháp chính sách không đủ mạnh, môi trường truyền dẫn chính sách kém hiệu quả làm biến dạng mục tiêu mong muốn là những nhân tố cản trở sự hồi phục, vì vậy tăng trưởng GDP khó đạt mức đề ra 5,5% mà sẽ thấp hơn.
Các vấn đề dễ xảy ra, đó là lãi suất thực âm do ngân hàng dư thừa vốn không cho vay được khiến cho lãi suất huy động hạ và thấp hơn lạm phát làm cho người gửi tiền gặp khó khăn, trong khi các kênh đầu tư khác không hiệu quả và tác động lên tỷ giá ngoại tệ.
Nhiều chương trình cải cách được đặt ra nhưng thời gian cứ trôi và có nhiều lý do để ngày càng hoài nghi về khả năng đất nước có thể thực hiện những ý tưởng cải cách cấp bách đã đặt ra.
Có thể nói cho đến nay chúng ta vẫn chưa đưa ra mục tiêu thực sự về kinh tế Việt Nam, cái gì là chủ đạo, hình dung về tương lai không rõ ràng, dẫn đến các kế hoạch cũng không rõ ràng và phương pháp thực hiện không hiệu quả.
cải cách kinh tế, chính sách, nợ xấu, tồn kho, suy giảm. 
Những lo ngại
Sự phát triển của Trung Quốc đang đòi hỏi một nguồn lực đầu vào khổng lồ mà riêng Trung Quốc không thể cung cấp được. Do vậy đang tạo ra nhu cầu lớn về nguyên liệu, nhiên liệu. Điều này gián tiếp làm thay đổi khuynh hướng sản xuất của nhiều nước, khiến một số nước bị hấp dẫn bởi xuất khẩu tài nguyên, hàng hóa thô, sơ chế sang Trung Quốc. Nguồn lực sẽ bị rút khỏi khu vực sản xuất công nghiệp khiến đất nước mất dần khả năng cạnh tranh trong dài hạn. Các quốc gia giàu tài nguyên sẽ bị phân ly khỏi quỹ đạo công nghiệp hóa truyền thống và dần lệ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên. Sự gần gũi về địa lý, giàu tài nguyên và trình độ sản xuất thấp hơn có thể khiến Việt Nam dần bị hút vào vòng xoáy này.
Ngoài ra, xuất siêu tăng mạnh là một nỗi lo mới, do cơ cấu xuất khẩu không đổi, chủ yếu là nhóm có giá trị thấp, dính vào nấc thang công nghệ thấp. Trong khi đó lại không có khả năng thoát bẫy công nghệ vì tốc độ bứt phá của nền kinh tế thấp.
Theo tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, cần phải xem xét nhiều vấn đề cho tương lai, nếu không khi giải quyết nợ xấu, tiền tệ xong quay lại thì công nghiệp Việt Nam chẳng còn gì. Các lĩnh vực sản xuất như chế biến thức ăn gia súc, hóa mỹ phẩm... đang bị các DN có vốn đầu tư nước ngoài ( FDI) thôn tính, nguy cơ bị xóa sổ trên bản đồ công nghiệp Việt Nam.
Phá băng tín dụng, làm cách nào là điều rất đáng xem xét. Tại Mỹ phải mất 5 năm và tốn kém nhiều tiền của, tại Nhật mất 15 năm với lãi suất 0%, còn Việt Nam quan niệm hết sức ngây thơ, chỉ cần hạ lãi suất là có thể phá băng tín dụng, mang đến những sai lầm trong cách thức giải quyết vấn đề.
Theo ông Nghĩa, Việt Nam gia nhập WTO, lạm phát cao hơn, tăng trưởng thấp hơn, có thể thấy đó là hiệu quả của sự “phởn phơ”. Thấy FDI vào nhiều, giàu lên quá dễ nên phởn phơ trong xây dựng, ban hành chính sách; tất cả mục tiêu đề ra nằm trên hội chứng phởn phơ. Đây là kiểu tư duy trưởng giả, mới nổi, ảo tưởng đang gây ra rất nhiều tác hại.
Cuối cùng, báo cáo viết: Việt Nam cần nghiêm túc xem xét lại mô hình kinh tế và sớm định hướng một mô hình mới. Nếu tiếp tục né tránh nhận thức một cách dứt khoát và rõ ràng về mô hình mới cho phát triển kinh tế cùng những thể chế hỗ trợ phù hợp, thì cuộc cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự và sẽ bỏ lỡ cơ hội đi tới tương lai trên con đường bằng phẳng.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

Nợ công và thái độ của người dân

Có lẽ 99.99 % người dân không đi sâu vào kinh tế vĩ mô, cái mà họ có thể dễ nhận biết nhất là cái gì tăng, giảm khi họ đi ra chợ. Nợ công có lẽ cũng là một khái niệm xa xôi đối với họ, và có lẽ họ cũng không quan tâm nhiều về vấn đề này. Nhưng với kiểu ra tăng nợ công như hiện nay thì có lẽ vài năm nữa thôi Việt Nam rất có thể vỡ nợ, khi đó nợ công sẽ trở thành đề tài bài tán của mọi người và của mọi gia đình vì nợ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơm áo gạo tiền của họ. Thực ra mà nói cũng không có một con số nợ bao nhiêu là sẽ an toàn, như hi lạp nợ 110% gdp đã vỡ, trong khi đó nợ công của nhật là trên 200% họ vẫn rất vững trãi. Quan trọng là nợ công đó có được sử dụng hiệu quả không từ đó dẫn đến khả năng trả nợ thế nào, về mặt này có lẽ việt nam rất tệ bởi đa số nợ công của Việt Nam sử dụng rất kém hiệu quả, Hơn thế nữa nhìn vào khả năng trả nợ cùng rất mờ mịt. 50% nợ công là của các doanh nghiệp nhà nước nhưng họ đa số làm ăn thua lỗ thì lấy gì ra mà trả nợ. Còn về thu chi ngân sách của chính phủ hiện nay thâm hụt rất nặng nề do phải gánh một bộ máy công quyền cồng kềnh và kém hiệu quả, trong khi đó doanh nghiệp chết quá nhiều khiến nguồn thu giảm sút nghiêm trọng. Nói là vậy nhưng với tư cách là một công dân thì ai cũng mong muốn một ngày đất nước sẽ tươi sáng hơn, hi vọng ngày đó không phải là hôm qua

'Không thể mãi giấu giếm căn bệnh nợ công'

'Không thể mãi giấu giếm căn bệnh nợ công'

Theo nhiều chuyên gia, Quốc hội cần yêu cầu thay đổi cách tính nợ công ngay trong kỳ họp lần này thay vì bằng lòng với những con số đẹp, khiến người dân nặng gánh nợ nần trong tương lai.
Con số nợ công năm 2011 Chính phủ vừa báo cáo Quốc hội là 54,9% GDP và "tiếp tục nằm trong giới hạn an toàn cho phép". Tại phiên thảo luận ở tổ về vấn đề ngân sách ngày 25/5, một số đại biểu Quốc hội cũng thẳng thắn cho rằng ngay cả báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính Ngân sách vẫn còn "nhẹ nhàng" khi đánh giá về nợ công theo báo cáo của Chính phủ.
Trao đổi với VnExpress.net, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng đã đến lúc cần nhìn nhận lại căn bệnh "nợ công" đang nghiêm trọng tới đâu để có phương pháp chữa trị kịp thời. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành  - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế và Chính sách (VEPR) của Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam đang có khối lượng nợ khổng lồ nếu so với mức GDP bình quân đầu người. Theo ông, nợ công Việt Nam thậm chí đã vượt ngưỡng 100% GDP "tương đối lâu" nếu theo chuẩn quốc tế.
"Thường những nước có nợ công lớn như vậy có mức sống rất cao còn Việt Nam có vẻ đang đi vào con đường của những nước thu nhập đầu người thấp nhưng nợ vẫn cao. Đây là điều đáng lo ngại", Tiến sĩ Thành phân tích.
nocong-ft-1369701064_500x0.jpg
Gánh nặng nợ nần sẽ đè lên vai người dân nếu thực trạng nợ công nghiêm trọng như những gì các chuyên gia cảnh báo. Ảnh: FT.
Nhiều chuyên gia kinh tế đã đưa ra những con số về nợ công khác Bộ Tài chính, nhưng dù là số nào phần lớn đều cho thấy Việt Nam "nặng nợ" hơn nhiều những gì được báo cáo. Theo tính toán của ông Vũ Quang Việt, một nhà kinh tế gốc Việt, từng là Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên Hợp Quốc, nợ riêng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước - phần mà chưa được gộp trong báo cáo nợ công của Bộ Tài chính - đã chiếm 51% GDP. Nếu cộng cả con số của Bộ Tài chính, nợ công Việt Nam đã chiếm 106% GDP. 
Tiến sĩ Lưu Bích Hồ cũng cho rằng nợ của khu vực kinh tế Nhà nước cần được tính đúng, đủ vào báo cáo và con số nợ công theo tính toán của ông cũng khoảng 106% GDP. Như vậy, cả nước làm ra 100 đồng nhưng có tới 106 đồng là vay nợ. Còn theo các tác giả tại báo cáo về nợ công vừa được Ủy ban Kinh tế Quốc hội công bố, trong 100 đồng GDP làm ra thì cũng có tới 95 đồng đi vay.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh - nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng cho dù là 95% hay 106% thì đây đều là những con số "rất nghiêm trọng" và Việt Nam lâu nay vẫn "bóc ngắn cắn dài". Ông đề nghị ngay trong kỳ họp lần này, Quốc hội cần làm rõ con số nợ công thực sự để tránh rơi vào vết xe đổ của Hy Lạp. 
Theo ông, Chính phủ của quốc gia châu Âu này từng giấu giếm, che đậy các con số thống kê về nợ công rồi vay nợ rất nhiều trên các thị trường tài chính để bù đắp bội chi ngân sách. Đến khi vượt quá sức chịu đựng và khủng hoảng bùng nổ thì Hy Lạp mới thừa nhận sai lầm và con số nợ công được điều chỉnh tăng vọt tới 110% GDP. "Dẫu biết con số thực sẽ không phải một tin tốt lành nhưng thà biết đầy đủ về bệnh tình và biết sớm để kịp thời chữa trị còn hơn giấu bệnh cho nó trầm trọng hơn", chuyên gia Lê Đăng Doanh cho biết.
Theo ông Doanh, sở dĩ Chính phủ duy trì cách gạt những khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước (không có bảo lãnh của Chính phủ) thay vì cách tính của quốc tế, là để tránh đẩy con số nợ công lên quá cao. Tuy nhiên, một số ý kiến đang muốn Quốc hội nới trần nợ công (trần hiện nay là 60% GDP) để Chính phủ được quyền vay thêm, phát hành trái phiếu thêm. "Đây là điều hết sức nguy hiểm. Nếu vay nợ mà hiệu quả, tạo ra công ăn việc làm thì là điều tốt. Ngược lại, vay nợ để các doanh nghiệp đầu tư không hiệu quả, đẩy chi phí cao, tăng tham nhũng thì sẽ là một gánh nặng đè lên vai người dân", ông Doanh lo lắng.
Một chuyên gia tham gia cố vấn về tài chính cho Chính phủ cho rằng Chính phủ cũng có "cái lý" của mình khi không tính toán nợ công theo thông lệ quốc tế. Theo ông, xu hướng hiện nay nợ trong nước có tỷ trọng cao hơn nợ nước ngoài. Tuy nhiên, chủ nợ trong nước lại chủ yếu là các "ông lớn" ngân hàng quốc doanh mà Nhà nước nắm không ít vốn trong đó. "Ngay cả các chủ nợ nước ngoài, khi cho các doanh nghiệp Nhà nước vay, họ cũng thừa hiểu đây là những doanh nghiệp "quá lớn" và Chính phủ sẽ không thể để chúng sụp đổ", vị này nói.
Không ít ý kiến lo ngại Việt Nam nguy cơ rơi vào vòng luẩn quẩn vì gánh nặng nợ nần. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, khi suy thoái kinh tế thì càng cần những biện pháp kích thích tăng trưởng. "Thế nhưng như vậy sẽ khiến tăng nợ công. Ngược lại, nếu không kích thích thì tăng trưởng rất chậm. Đây chính là sự nguy hiểm với kinh tế Việt Nam khi lún vào vòng luẩn quẩn chẳng mấy tốt đẹp gì", ông Thành lý giải. 
Những nghiên cứu trên thế giới đều chỉ ra rằng những nước có nợ công cao so với GDP thì tốc độ tăng trưởng trong tương lai thấp đi. "Khi nhà đầu tư nước ngoài thấy điều này, họ sẽ không kỳ vọng nhiều và rút dần mối quan tâm khỏi Việt Nam. Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành cảnh báo: "Từ đó chúng ta sẽ mất đi nguồn lực hợp tác từ nước ngoài, cộng thêm yếu tố này sẽ khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại".
Còn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh thì lo ngại gánh nặng đè quá lớn lên thế hệ sau này. "Người dân phải dành một khoản tiền ngày càng cao để trả nợ. Điều này có nghĩa thế hệ hiện nay đang ăn và bắt thế hệ mai sau phải trả. Đây là điều rất bất công", ông nói. 
Ngoài yêu cầu minh bạch thực trạng nợ, các chuyên gia cho rằng nên tăng hiệu quả cho khối doanh nghiệp Nhà nước để phần nào giảm thiểu nợ nần. Cụ thể, việc bán doanh nghiệp Nhà nước qua cổ phần hóa và lấy đó để trả nợ có thể là một giải pháp. Tuy nhiên, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong vài năm gần đây liên tục "tắc" với lý do na ná nhau qua các năm như "kinh tế suy giảm" hay "thị trường chứng khoán đi xuống"... Do đó, các chuyên gia cho rằng bản thân Chính phủ cũng phải tiết chế chi tiêu thường xuyên và đầu tư công phải hiệu quả hơn.

Ám ảnh khủng hoảng nợ công trên thế giới

Khủng hoảng tại Mỹ Latin, Mexico, châu Á và eurozone đều xảy ra do bùng nổ tín dụng thiếu kiểm soát, ngay sau thời kỳ tăng trưởng nhanh. Riêng khu vực châu Âu, khủng hoảng nợ đã kéo sang năm thứ 5 mà chưa có dấu hiệu kết thúc.
Ủy ban Kinh tế Quốc hội và Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam vừa công bố báo cáo "Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai". Trong đó, báo cáo phân tích các cuộc khủng hoảng tại Mỹ Latin, châu Á và châu Âu để rút ra bài học cho việc giám sát, quản lý nợ công tại Việt Nam.
Khủng hoảng nợ Mỹ Latin thập niên 80 được gọi là "Thập kỷ mất mát" và đã manh nha từ những năm 1970. Trong giai đoạn đó, Brazil, Argentina và Mexico phát triển khá mạnh, chủ yếu do vay nước ngoài quy mô lớn để nâng cấp công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên, đến đầu thập niên 80, các nước Mỹ Latin bắt đầu gặp khó khăn trong việc trả nợ. Kinh tế thế giới suy thoái những năm 1979, 1980 đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng và xuất khẩu của các nước này. Một nguyên nhân khác là các khoản vay bị sử dụng thiếu thận trọng và có liên quan đến tham nhũng. Từ giữa năm 1975-1982, các khoản nợ công của các nước Latin đối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới tăng với tỷ lệ gộp hàng năm lên đến trên 20%, khiến tổng nợ vay đã tăng từ 75 tỷ USD năm 1975 lên đến hơn 315 tỷ USD năm 1983, trong đó, thanh toán lãi suất và trả vốn gốc tăng mạnh, từ 12 tỷ USD năm 1975 lên 66 tỷ USD năm 1982 (The berge 1999).
Hầu hết các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đều đã từ chối hoặc giảm cho vay các nước châu Mỹ Latin khác. Trong khi đó, các khoản nợ vay của chính phủ các nước lại chủ yếu là ngắn hạn và các nước gặp khó khăn trong thanh toán nợ khi các tổ chức cho vay từ chối gia hạn các khoản vay. Hàng tỷ USD nhanh chóng đến hạn thanh toán và các dòng vốn bắt đầu thoái lui khỏi các quốc gia trong khu vực và các nước không còn có thể vay thêm.
Cuộc khủng hoảng nợ tại đây bắt đầu vào tháng 8/1982 khi Mexico tuyên bố vỡ nợ. Tiếp đó là Brazil, Venezuela, Argentina và Bolivia. Trong suốt những năm đầu của khủng hoảng, tăng trưởng GDP các nước trong khu vực chỉ còn hơn 2%.
Để có tiền trả nợ, họ đã cầu viện những tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Đổi lại, các nước phải chấp nhận thắt lưng buộc bụng, phá giá nội tệ hay tự do hóa thương mại để cải thiện nền tài chính. Hậu quả là kinh tế tăng trưởng trì trệ, thu nhập bình quân đầu người giảm và chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng. Đến tận đầu thập niên 90, khủng hoảng ở Mỹ Latin mới lắng dịu.
Sau này, Mexico tiến hành tự do hóa thương mại và dần áp dụng thể chế kinh tế thị trường. Tuy nhiên, kinh tế phát triển lại đi kèm bùng nổ tín dụng thiếu kiểm soát. Tăng trưởng bắt đầu giảm sút năm 1993 và nợ xấu cũng tăng mạnh.
Năm 1994, Mexico dần phá giá đồng peso để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, các nhà đầu tư đã mất niềm tin với nước này. Đỉnh điểm là sau tuyên bố dự trữ ngoại hối cạn kiệt và đồng peso bị thả nổi. Vốn bị rút ồ ạt đã châm ngòi cho khủng hoảng tài chính tại đây.
Tuy nhiên, Mỹ, IMF, WB, và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đã kịp thời hỗ trợ gần 40 tỷ USD cho Mexico. Đổi lại, nước này phải thắt chặt chính sách tài khóa và tiền tệ, đồng thời tư nhân hóa và tự do hóa các hoạt động kinh tế. Đến năm 1996, Mexico bắt đầu phục hồi.
Tại Đông Á và Đông Nam Á, khủng hoảng đến ngay sau thời kỳ tăng trưởng kinh tế ấn tượng. Nguyên nhân cũng là bùng nổ tín dụng từ các nguồn vốn từ nước ngoài được sử dụng thiếu kiểm soát khi phần lớn đổ vào bất động sản và chứng khoán.
Khủng hoảng tài chính Đông Á chính thức bắt đầu từ tháng 7/1997 với sự sụp đổ của đồng bath Thái do các dòng vốn ồ ạt rút mạnh khỏi quốc gia này. Tại thời điểm đó, Thái Lan đã có gánh nặng nợ nước ngoài lớn khiến quốc gia này lâm vào tình trạng vỡ nợ, phá sản trước khi đồng bath sụp đổ.
Hiệu ứng lan tỏa khiến nhà đầu tư phương Tây bất ngờ rút mạnh vốn, khiến tiền tệ các quốc gia khác trong khu vực lần lượt bị phá giá. Hàng loạt tập đoàn và công ty, đặc biệt về bất động sản, vỡ nợ. Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất.
Khủng hoảng tài chính nhanh chóng chuyển sang suy thoái kinh tế trầm trọng. Đồng tiền các quốc gia bị phá giá, lạm phát gia tăng, các tổ chức tài chính và công ty phá sản, nợ xấu lên kỷ lục, tăng trưởng kinh tế suy giảm và thất nghiệp gia tăng. GDP của Indonesia giảm tới 15% trong vòng một năm, Thái Lan và Malaysia cũng giảm xấp xỉ 10%, trong khi Hàn Quốc giảm 3,8% trong quý đầu của năm 1998.
IMF đã phải khởi động chương trình cứu trợ trị giá 36 tỷ USD cuối năm 1997 để ổn định đồng tiền của các nước bị tác động mạnh nhất bởi khủng hoảng. Đổi lại, các nước thắt chặt tiền tệ, tái cấu trúc hệ thống tài chính hoặc giảm can thiệp vào kinh tế thị trường. Đến đầu năm 1999, khu vực này mới dần hồi phục.
Cuộc khủng hoảng nợ công gần đây nhất và kéo dài nhất là tại khu vực đồng euro. Khủng hoảng bắt đầu khi các thành viên eurozone không thể tự ứng phó với vấn đề mất cân bằng tài khóa trong nước. Những dấu hiệu đầu tiên của cuộc khủng hoảng nợ công đã bắt đầu từ năm 2009. Đến tháng 11, sau khủng hoảng nợ ở Dubai, quan ngại về tình hình nợ công ở các nước châu Âu bắt đầu lớn dần lên. Dấu hiệu khủng hoảng bắt đầu rõ hơn sau khi Hy Lạp thừa nhận (vào tháng 12) tổng dư nợ lên tới 300 tỷ euro (tương đương 113% GDP), dù bác bỏ việc mất khả năng thanh toán các khoản nợ này. Đến nay, cuộc khủng hoảng đã kéo dài sang năm thứ 5 và vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc.
Theo giới phân tích, khủng hoảng diễn ra ngay sau giai đoạn bùng nổ tín dụng, lãi suất cho trích lập rủi ro thấp, dư thừa thanh khoản, đòn bẩy tài chính cao và bong bóng bất động sản. Một nguyên nhân khác là tăng chi hoặc giảm thu ngân sách thiếu kiểm soát của các Chính phủ. Xét rộng hơn, việc này còn do chính sách tài khóa của các nước chưa hài hòa và cơ chế phối hợp ứng phó còn bất đồng.
Cuộc khủng hoảng đã làm tổn thất hàng nghìn tỷ USD thu nhập tài chính của các nước thành viên EU, do đồng euro liên tục mất giá. Ngày 4/5, Ủy ban châu Âu (EC) dự đoán GDP eurozone sẽ giảm 0,4% năm nay. Tỷ lệ thất nghiệp toàn khu vực cũng lên cao kỷ lục trong tháng ba với 12,1%. Nợ công eurozone đạt 8.600 tỷ euro năm ngoái, tương đương 90% GDP.
Tuy nhiên, các biện pháp ứng phó ở châu Âu mới chỉ thiên về chống chọi với khó khăn tài chính trước mắt ở các quốc gia, nhằm tránh tác động lây lan ở cả khu vực. Từ năm 2009, các nước như Pháp, Tây Ban Nha, Ireland và Hy Lạp đã phải thắt lưng buộc bụng để giảm thâm hụt ngân sách.
Dù vậy, tình hình tại đây vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện. Đến nay, 5 nước đã phải xin cứu trợ tài chính là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Tây Ban Nha và Síp. Nghiêm trọng hơn, khủng hoảng cũng đang lan từ các nước vùng rìa châu Âu sang các nền kinh tế mạnh ở vùng lõi như Đức và Pháp.
Từ phân tích trên, các tác giả báo cáo "Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai" cho rằng Việt Nam cần thận trọng trong vay nợ Chính phủ, có cơ chế giám sát tài chính để kiểm soát tín dụng công ty tư nhân và vay tư nhân được Chính phủ bảo lãnh. Tái cơ cấu kinh tế, đặc biệt là tài chính ngân hàng, sẽ tăng khả năng chống chọi với khủng hoảng. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối cũng phải đủ lớn để chống đầu cơ tiền tệ.
Riêng về đầu tư công, báo cáo cho rằng Việt Nam cần tránh lãng phí để giảm thâm hụt ngân sách. Bên cạnh đó là minh bạch thông tin liên quan đến chi tiêu và đầu tư công. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, mô hình tăng trưởng của Việt Nam cần giảm phụ thuộc vào yếu tố này.
Ngoài ra, các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là tài khóa và tiền tệ, cũng cần được phối hợp thực hiện. Việt Nam sẽ phải tăng cường hợp tác với các nước để bảo đảm an ninh tài chính trong khu vực.

'Nền kinh tế phải trả giá đắt vì thắt chặt quá mức'

Theo tiến sĩ Võ Trí Thành, chính sách vĩ mô thắt chặt so với kỳ vọng ban đầu, từ góc độ đầu tư, tín dụng đến cung tiền đã làm cho tình hình kinh tế phải trả giá quá cao.
5 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ tăng 2,35% so với cuối năm 2012, thấp nhất trong 4 năm qua. Trong khi đó, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể và phá sản lại ở mức cao (23.200 doanh nghiệp). Điều này khiến nhiều ý kiến cho rằng chính sách thắt chặt quá mức thời gian qua đã khiến nền kinh tế suy yếu.
Trao đổi bên lề Hội thảo công bố Báo cáo Kinh tế thường niên 2013 hôm qua, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) kiêm thành viên Nhóm tư vấn của Thủ tướng nhận định, thắt chặt chính sách tiền tệ đã khiến sức mua của người tiêu dùng yếu đi, đầu tư của doanh nghiệp và chi tiêu của Chính phủ bị thu hẹp.
nguyen-duc-thanh-JPG-1369656924_500x0.jp
Tương lai kinh tế Việt Nam còn rất gập ghềnh. Ảnh: Huyền Thư
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 giảm 0,06% và có thể tiếp tục giảm trong tháng 6. "Trước mắt, trong quý II, lạm phát có thể âm, còn sang nửa cuối năm chỉ số này có thể tăng nhẹ do yếu tố mùa vụ, mặc dù không bằng mọi năm", vị này cho hay. Chưa nhìn thấy sự giảm phát trong năm nay, song ông bày tỏ lo ngại khi số doanh nghiệp rút khỏi thị trường lên tới hàng vạn, điều "chưa bao giờ xảy ra".
Dự báo cho cả năm 2013, báo cáo mang tên "Trên đường gập ghềnh tới tương lai" của VEPR cho thấy, lạm phát năm nay dao động từ 4,95 - 6,64%, thấp hơn năm 2012. Điều này diễn ra trong bối cảnh sức khỏe của nền kinh tế vẫn còn đáng lo ngại, doanh nghiệp suy yếu, nợ xấu chưa được giải quyết triệt để, lãi suất cao. Năm 2013, tốc tộ tăng trưởng kinh tế dự kiến chỉ khoảng 5,04 - 5,35%, tiếp tục thấp hơn mục tiêu 5,5% mà Chính phủ đề ra.

Tiến sĩ Vũ Viết Ngoạn - Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng nhận xét chính việc chú trọng quá đến mục tiêu kiểm soát lạm phát dẫn đến việc kinh tế suy giảm, trong tương lai có thể gây mất cân đối cung cầu hàng hóa và tạo ra lạm phát do thiếu cung.
Để tránh một tương lai "kém tươi sáng", ông khuyến nghị, Việt Nam cần thực thi hài hòa giữa chính sách kiềm chế lạm phát và ổn định tăng trưởng. Thời gian tới, phải tính toán "cái giá phải trả" cho việc thắt chặt chính sách để quyết định nên duy trì chính sách thắt chặt như hiện nay hay nới lỏng.

Ngoài ra, kinh tế Việt Nam cũng được nhìn nhận đang ở phân khúc thấp của chuỗi giá trị toàn cầu, gây khó khăn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu, công nghệ trong nước. Yếu tố này đã gây cản trở đến năng suất lao động, vốn lại là "linh hồn" của quá trình tái cơ cấu, vị này phát biểu.

Do vậy, trong ngắn hạn, cần tập trung những giải pháp để ứng cứu kịp thời cho doanh nghiệp. Về trung và dài hạn, phải tập trung tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh, khôi phục niềm tin của dân chúng và nhà đầu tư. "Nếu kết hợp được hai yếu tố này thì sẽ không bị rơi vào vòng xoáy hết lạm phát rồi đến suy giảm, rồi hết suy giảm lại tới lạm phát", tiến sĩ Ngoạn nhấn mạnh.

Trước đó, trao đổi với về tình hình kinh tế hiện nay, PGS-TS Đào Văn Hùng - Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển cho biết sản xuất của doanh nghiệp "đang rất đình đốn" và cần những động thái cấp bách của Chính phủ.

Biện pháp hiệu quả nhất được vị này đưa ra là tăng chi tiêu Chính phủ, nới trần nợ công nhằm kích thích tổng cầu. "Nếu chi tiêu công tăng lên thì việc sử dụng sắt thép, xi măng và lao động sẽ toàn dụng hơn, kéo theo một loạt các ngành khác phát triển sẽ khiến thị trường ấm lên và nền kinh tế sẽ xoay chuyển được", ông nói. Vì vậy, cần gấp gói kích cầu kinh tế khoảng 100.000 đến 200.000 tỷ đồng để giải cứu doanh nghiệp.
Các chuyên gia của VEPR cũng khẳng định, Việt Nam cần nghiêm túc xem xét lại mô hình kinh tế vừa qua và sớm định hướng một mô hình mới, cùng những thể chế hỗ trợ phù hợp, nếu không các cuộc cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự, và "Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội đi tới tương lai bằng con đường bằng phẳng".
Liên quan đến tỷ giá, tiến sĩ Vũ Viết Ngoạn cho rằng tỷ giá ổn định đã góp phần nâng cao giá trị tiền đồng, tăng dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, điều này lại gây ra những hệ lụy nhất định cho nền kinh tế như lãi suất cao, ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu của doanh nghiệp.

Với lãi suất cao, tỷ giá ổn định thì sẽ dẫn đến chuyển dịch cơ cấu đồng tiền, nhiều người có thể bán trước ngoại tệ lấy tiền đồng rồi cho vay. Với lượng ngoại tệ ngắn hạn này thì Ngân hàng Nhà nước lại phải mua vào qua phát hành tín phiếu. Do đó, ông đề xuất phải nghiên cứu rõ "chi phí" của chính sách ổn định tỷ giá, để xem liệu có nên tiếp tục thực thi không.
Trong khi đó, theo báo cáo của VEPR, định hướng của chính sách tỷ giá không chỉ dừng lại ở những điều chỉnh ngắn hạn trong nửa cuối năm nay (tăng khoảng 2-3%) mà cần một tầm nhìn ổn định nhằm tác động tích cực đến sản xuất.

Xã hội nặng gánh thuế phí, ngân sách vẫn thâm hụt

Tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài nhiều năm chưa cải thiện, dù người dân, doanh nghiệp Việt Nam đang đóng góp thuế phí với tỷ lệ lớn hơn nhiều nước trong khu vực, đó là chưa kể tới "thuế lạm phát", phí lót tay.
Bên cạnh những rủi ro từ khoản vay của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, báo cáo về nợ công vừa được Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố cũng chỉ ra thực trạng đáng lo ngại về quản lý ngân sách. "Tình trạng thâm hụt ngân sách là rất nghiêm trọng, ngay cả khi Việt Nam đang có tỷ lệ thu thuế, phí rất cao so với các nước khác trong khu vực", các tác giả nhận định.
Theo quyết toán ngân sách của Bộ Tài chính, trung bình trong giai đoạn từ 2006-2010, tổng thu và viện trợ (không gồm thu kết chuyển) của Việt Nam khoảng 29,3% GDP. Nếu chỉ tính thu từ thuế và phí (loại trừ thu viện trợ và các khoản thu từ nhà đất), con số này là 26,2% GDP. Nếu trừ tiếp thu từ dầu thô, tổng thu chiếm khoảng 20,3%. Tỷ trọng thu từ dầu thô có xu hướng giảm dần, từ khoảng 6,9% GDP vào năm 2007 xuống còn chưa đầy 3,1% GDP năm 2011.
"Điều này chứng tỏ tỷ trọng các khoản thu khác đang ngày càng gia tăng", báo cáo kết luận.
nh2-hh490-1369653308_500x0.jpg
Áp lực thuế - phí sẽ càng cao nếu thâm hụt ngân sách còn kéo dài. Ảnh: Hoàng Hà.
Không chỉ thuế - phí thông thường, người dân còn phải chịu cả "thuế lạm phát". Theo giải thích tại báo cáo của Ủy ban Kinh tế, khi Chính phủ tài trợ thâm hụt tài khóa bằng cách tăng cung tiền (phát hành trái phiếu) thì được coi là đang "thu thuế lạm phát" đối với những người đang nắm giữ tiền. Báo cáo cũng phân tích: "Điều này khá giống những gì đã diễn ra ở Việt Nam. Thâm hụt tài khóa được tài trợ phần lớn bởi vay nợ thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ, có năm lượng tạm ứng ngân sách bằng cả nguồn tiền phát hành".
Số liệu IMF cho thấy, ngoài "thuế lạm phát" hàng năm ở mức hai con số, tỷ lệ thuế phí trên GDP của Việt Nam hiện cao gấp từ 1,2-1,8 lần so với các nước khác trong khu vực. (Xem biểu đồ)
thue-khu-vuc490_1369653123[1322071706].j
So với các nước trong khu vực, thuế - phí của Việt Nam khá cao. 
Các doanh nghiệp cũng đang phải trả chi phí không chính thức khá cao. Kết quả điều tra Chỉ số năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) năm 2011, hơn 52% doanh nghiệp được hỏi cho biết phải trả tiền lót tay cho cán bộ hành chính địa phương. Hơn nữa, khi tham nhũng nhỏ có biểu hiện giảm đi thì tham nhũng lớn lại có xu hướng tăng thông qua hành vi "lại quả" khi ký kết các hợp đồng hay các hoạt động đấu thầu. 
Tổng mức thu thuế trên GDP cao phần nào đã khuyến khích những hành vi trốn thuế như chuyển giá, làm giảm ngân sách Nhà nước. Số liệu thống kê gần đây cho thấy, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 20% GDP nhưng các doanh nghiệp này (loại trừ dầu thô) lại chỉ đóng góp trên dưới 10% tổng thu cho ngân sách Nhà nước.
Thu thuế nhiều nhưng thâm hụt ngân sách vẫn rất nghiêm trọng, một phần do chi tiêu khu vực công vẫn quá lớn. Cụ thể, quy mô chi tiêu ngân sách, gồm chi đầu tư và chi thường xuyên của Việt Nam chiếm hơn 30% GDP trong những năm gần đây. Trong khi đó, theo các nhà kinh tế, mức tối ưu để hỗ trợ tăng trưởng chỉ khoảng 15-20% GDP. Số liệu của ADB cho biết, các quốc gia và vùng lãnh thổ như Hong Kong, Đài Loan, Indonesia, Singapore có quy mô chi tiêu Chính phủ nhỏ nhất, chỉ xấp xỉ 15-18% GDP.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một số khoản chi tiêu của Chính phủ là cần thiết để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế. "Ngược lại, nếu vượt quá ngưỡng nào đó sẽ cản trở tăng trưởng, gây ra tham nhũng, thất thoát và chèn ép khu vực tư nhân", các tác giả lo ngại.
Quy mô chi tiêu chính phủ ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á (%GDP)
Quy mô chi tiêu chính phủ ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á (%GDP)
Không chỉ vậy, bộ máy công quyền hiện nay được cho là "cồng kềnh và chi tiêu tốn kém", ảnh hưởng không nhỏ đến bội chi ngân sách. Trong đó, chi thường xuyên chiếm tỷ lệ rất lớn còn chi đầu tư phát triển lại nhỏ hơn rất nhiều. Trong khi tỷ trọng chi đầu tư phát triển có xu hướng giảm nhẹ thì chi thường xuyên, dù thấp hơn các nước trong khu vực, nhưng lại đang tăng nhanh.
Số liệu mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, bội chi ngân sách đến 15/5 là 67.200 tỷ đồng. Nhưng cũng trong khoảng thời gian nêu trên, ngân sách đã chi tới 38.300 tỷ đồng để trả nợ và viện trợ. Chuyên gia Lê Đăng Doanh bình luận, những con số này thể hiện hình hình đang rất "nghiêm trọng" khi 5 tháng phải chi hàng chục nghìn tỷ trả nợ công.  
Trên thực tế, vòng luẩn quẩn thuế cao - thâm hụt ngân sách vẫn lớn có thể không dừng lại bởi nhiều chuyên gia cho rằng áp lực thu thuế sẽ còn tiếp tục. "Khi việc kiềm chế thâm hụt ngân sách càng khó khăn thì việc tăng hoặc áp thuế, phí cao sẽ là những biện pháp cuối cùng mà Chính phủ có thể sử dụng", báo cáo về thâm hụt ngân sách và nợ công này lo ngại.

Có VAMC, tín dụng chưa chắc chảy

Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế trao đổi: Nghị định về thành lập Công ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) đã ra đời, được kỳ vọng sẽ giúp các ngân hàng và doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng nợ xấu, nhưng để tín dụng thực sự chảy thì không đơn giản.
Ông Ngô Trí Long
Trong bối cảnh nợ xấu đang là tảng đá ngáng đường dòng chảy tín dụng, ông có đánh giá cao về sự ra đời của VAMC, một công ty ra đời chủ yếu để hỗ trợ giải quyết nợ xấu?
Mục tiêu của VAMC được chính phủ cho là góp phần xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm rủi ro cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, tối đa hóa giá trị thu hồi nợ.
Tôi cho rằng đề án đưa ra thì tốt, vì dù sao cũng có thêm cách để xử lý vấn đề nợ xấu, nhưng ở một mức độ nhất định thôi. Vì nợ xấu chỉ được đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán, chứ không được giải quyết dứt điểm.
Thường ở các nước, có chuyên gia định giá khoản nợ, và mua đứt bán đoạn; còn ở Việt Nam, theo đề án này thì VAMC mua nợ bằng giá trị sổ sách thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt, vì vậy cũng cần xem xét kỹ, vì nó có những đặc thù mà các nước không có.
Trong quá trình thực hiện vẫn phải chờ xem có thể diễn ra điều gì bất cập hay không, nếu có thì phải thay đổi cho phù hợp. Khi triển khai thì phải minh bạch, tránh lợi ích nhóm, không thì hậu quả còn nặng nề hơn là khi chưa xử lý.
Trong đề án, VAMC mua lại nợ xấu và có quyền bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, nhưng liệu với tiền sử đã có nợ xấu, ngân hàng có sẽ cho doanh nghiệp vay?
Theo đề án thì khách hàng vay có khoản nợ xấu bán cho công ty quản lý tài sản và có phương án sản xuất kinh doanh khả thi sẽ được tổ chức tín dụng xem xét cho vay. Nếu thực hiện đúng như thế, tức doanh nghiệp sẽ nhanh chóng tiếp cận được vốn.
Nhưng trên thực tế, ngân hàng có cho vay hay không vẫn chưa thể chắc chắn được.
Nếu doanh nghiệp đã yếu rồi ngân hàng sẽ yêu cầu có phương án kinh doanh thật tốt, và phải có thêm tài sản thế chấp mới vay được vốn. Và ngân hàng đã biết rõ là doanh nghiệp vẫn yếu thì chưa chắc đã dám cho vay, để lại phát sinh nợ xấu. Vậy nên vốn có ra được nền kinh tế hay không, không phụ thuộc nhiều vào đề án này.
Số tiền đưa ra trong đợt này thông qua tái cấp vốn tối đa khoảng 40.000 tỉ đồng, theo như đề án thành lập VAMC. Đồng thời chính phủ cũng vừa công bố gói cho vay 30.000 tỉ đồng đối với người mua nhà và doanh nghiệp xây dựng nhà ở xã hội. Như vậy, cung tiền tăng có gây áp lực lên lạm phát?
Thực tế, 30.000 tỉ đồng chưa chắc đã sử dụng hết, và kể cả 40.000 tỉ đồng tiền tái cấp vốn (tối đa), của ngân hàng cũng khó mà ra được nền kinh tế bởi điều kiện cho vay của ngân hàng quá chặt chẽ. Nếu vậy, lạm phát là không đáng lo ngại. Ngân hàng sẽ không cho vay đối với những đối tượng không có khả năng trả nợ.
Tuy vậy, nợ xấu trên sổ sách thì đẹp, nhưng nợ vẫn còn đó, chưa xử lý triệt để được, mới chỉ như khoanh, dãn nợ, trong khi lại tiếp tục tung ra một lượng tiền lớn. Nếu sử dụng không hiệu quả khoản tiền trên, cộng với nợ xấu còn đó thì lại gây ra bất ổn cho kinh tế sau này.
Nếu thị trường bất động sản ấm lại sau 5 năm nữa, thì đề án này xem như đã đi đúng hướng vì tài sản đảm bảo được xử lý để thu hồi, nhưng nếu thị trường tiếp tục trầm lắng như hiện tại thì sẽ như thế nào, thưa ông?
Thị trường bất động sản có ấm lại được không, tùy thuộc nhiều vào sự phục hồi của nền kinh tế. Các nước mất 5 năm, 10 năm để phục hồi nền kinh tế. Ở nước ta, nếu nền kinh tế vẫn bất ổn như hiện nay thì có mất 20 năm thị trường bất động sản cũng chưa chắc đã phục hồi được.
Thực tế, vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất trong thời gian này là tái cơ cấu nền kinh tế thì chưa làm được. Cho đến nay đây vẫn chỉ là những khẩu hiệu chung chung, chưa có một đề án tổng thể cụ thể, thiết thực để thực hiện. Việc đưa ra đề án tái cơ cấu, lẽ ra phải từ đề án chung, rồi mới đến các đề án riêng, thì hiện đang làm ngược lại.
Nếu trong 5 năm nữa, nếu không giải quyết được các vấn đề trên thì không chỉ bất động sản chết mà nền kinh tế cũng bị khủng hoảng. Hiện giờ đã là tiền khủng hoảng rồi, sức mua cạn kiệt, thu nhập người dân thấp, doanh nghiệp phá sản nhiều, nợ xấu, các thị trường tài sản èo uột. Nếu mong chờ VAMC giải quyết một phần nào đó các bất ổn thì cũng không nên trông chờ nhiều, vì vấn đề chung chưa có gì cải thiện.

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

tình hình ngân hàng quý 2 năm 2013

Tôi không có ý định bàn về mô hình ngân hàng của Việt Nam hiện nay, mà chỉ làm rõ một phần thực trạng nợ xấu cũng như thanh khoản trong giai đoạn hiện nay. Tổng dư nợ tính đến nay khoảng 2.8 triệu tỷ, trong hơn một năm vừa qua thì tiền gửi vào tăng mạnh hơn tăng trưởng điều đó làm cho thanh khoản toàn hệ thống tương đối dồi dào. Nhưng điều đó luôn bấp bênh bởi nợ xấu của toàn bộ hệ thống khoảng 600.000 tỷ trong khi đó vốn điều lệ của toàn bộ hệ thống chỉ đạt 285.000 tỷ. Như vậy có thể thấy nợ xấu đã quá vốn điều lệ của các ngân hàng , như thế về mặt danh nghĩa thì hệ thống đã có rất nhiều ngân hàng phá sản nhưng thực tế thì chưa có ngân hàng nào cả. Còn xét về mặt tỷ lệ  cho vay trên huy động thì theo thống đốc nguyễn văn bình hiện tại nó khoảng 93% ( đỉnh cao là đầu năm 2011 - 103% ) trong khi đó tỷ lệ này ở các nước trên thế giới chỉ là 70%. Nói như thế là cho thây tình trạng các ngân hàng hiện nay vẫn rất báo động và nó có thể bị sụp đổ bất cứ lúc nào ( nó chỉ có bớt nguy ngập hơn năm 2011 mà thôi )