Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Khủng Hoảng Trung Quốc

Khủng Hoảng Trung Quốc

Tác giả: Hùng Tâm/NV
Wednesday, August 07, 2013

Vì sao bị khủng hoảng và tại sao thiên hạ không thấy?

Sau nhiều tháng phân vân, hầu hết giới bình luận kinh tế đều đã có chung một nhận định. Rằng kinh tế Trung Quốc sẽ đối mặt với một vụ khủng hoảng tài chánh tương tự như Nhật Bản năm 1989-90, Nam Hàn năm 1997-98, hay Hoa Kỳ năm 2008-09. Và sau đó sẽ là một vụ khủng hoảng kinh tế kéo dài trong nhiều năm, như Nhật Bản đã từng gặp từ 1991 đến nay. 
 

Với nhiều người theo dõi tình hình kinh tế và chính trị Trung Quốc từ lâu – phải hơn chục năm – chuyện khủng hoảng không là bất ngờ mà còn được tiên báo, nhưng ít được chú ý vì trái với nhận định của “dòng chính” (mainstream). Nhiều quỹ đầu tư, giáo sư kinh tế hay chuyên gia học giả không ngớt lời ngợi ca phép lạ kinh tế của Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng trên 10% một năm trong mấy chục năm liền và đã vượt qua sản lượng của Ðức, rồi Nhật. Từ đó, người ta dự báo Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ để có nền kinh tế đứng đầu thế giới trong thập niên này.

Bây giờ thì mọi chuyện đều đảo ngược. Theo sau các quỹ đầu tư bị lỗ vốn khi quá tin tưởng vào triển vọng kinh tế Trung Quốc, nhiều nhà bình luận đã bắt đầu xét lại… Tác giả xin nêu câu hỏi là “Tại sao ít ai nhìn ra chuyện này?”
MEA CULPA 2008-2012

Muốn có giải đáp, chúng ta hãy nhìn vào chuyện gần rồi mới tìm hiểu về chuyện xa.

Cuối năm 2007, kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm (recession) là khi đà tăng trưởng giảm sút trong hai quý liền. Nạn suy trầm xảy ra sau giai đoạn sung mãn của thị trường gia cư từ quãng 2002 đến 2006. Ðầu năm 2008, khủng hoảng tài chánh đã từ Âu Châu lan về Hoa Kỳ và bùng nổ với sự sụp đổ của các tổ hợp đầu tư Bear Sterns rồi Lehman Brothers, tập đoàn bảo hiểm AIG, v.v…
Từ đó, kinh tế thế giới bị “Tổng suy trầm” (Global Recession) trong hai năm liền.
Ðấy là lúc các chuyên gia, học giả, báo giới và chính khách nói đến một vụ Tổng khủng hoảng của Tư bản Chủ nghĩa, chẳng khác gì thời 1929-1933, và sự suy thoái (depression) của Hoa Kỳ sau khi đã chi tiêu và bành trướng quá mạnh. Nhận định ấy sai, nhưng không thuộc phạm trù về bài này.
Khi đó, truyền thông báo chí hùa theo sự lạc quan hồ hởi của các quỹ đầu tư mà nói về chương trình kích thích kinh tế vĩ đại của Trung Quốc, khởi sự từ tháng 11 năm 2008 và tiếp tục cho đến năm 2010 là khi kinh tế xứ này vượt qua Nhật Bản. Theo phản ứng bày đàn, như trong một vụ trứng cút tại Việt Nam, nhận định chung của nhiều người là “may quá còn có Trung Quốc!”

Nhờ ngân khoản kích cầu khổng lồ để bù vào sự suy trầm chung của Hoa Kỳ rồi Âu Châu, Trung Quốc vẫn duy trì được sức tăng trưởng cao. Chẳng những không hề sa sút mà còn có thể là một đầu máy cho kinh tế thế giới. Giai đoạn lạc quan ấy kéo dài cho đến đầu năm 2012, khi Trung Quốc lại chuẩn bị Ðại hội đảng Khóa 18 vào cuối năm với nhiều biện pháp kích thích nữa. Ðấy là lúc người ta nói đến trào lưu tất yếu là “Tàu sẽ vượt Mỹ”.
Nhiều người còn đề cao mô hình phát triển của Trung Quốc như giải pháp có giá trị hơn, nhờ sự can thiệp sáng suốt của một nhà nước anh minh, cũng tương tự như ông Obama của Mỹ! Ðến cuối năm 2012 thì người ta mới bàng hoàng nhận ra một sự thật khác là cổ phiếu Trung Quốc rớt như cục gạch và núi nợ ngân hàng cao chất đống bắt đầu rung chuyển….
Qua năm 2013 thì nhạc lắng mây chìm! Nhiều quỹ đầu tư thành thật khai báo với thân chủ rằng “lỗi tại tôi mọi đàng,” mea maxima culpa.
Sai ở đâu?

Ðây là những lý do đầu tiên và dễ thấy nhất của sự sai lầm vĩ đại của giai đoạn 2008-2012.Trên thế giới, người ta có 1) nền kinh tế đã phát triển (của khối công nghiệp hóa là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, cộng với một số quốc gia tiên tiến như Canada, Úc, Tân Tây Lan) và 2) các nền kinh tế đang phát triển. Trong nhóm đang phát triển hay đang lên (emerging), có Trung Quốc.
Quy luật vận hành của hai khối kinh tế đã và đang phát triển có khác biệt chứ không hoàn toàn giống nhau. Một khác biệt nữa là các nước công nghiệp hóa đều theo chế độ dân chủ và công khai hóa mọi vấn đề lẫn tranh luận về giải pháp. Họ tạo ra một hình ảnh hỗn loạn, bất nhất và thiếu ổn định. Nghĩa là sự bất trắc của chủ nghĩa tư bản!
Trong khối đang phát triển lại còn có hai loại quốc gia. Nhiều nước có tài nguyên thiên nhiên như nguyên nhiên vật liệu và nhiều nước có dân số đông đảo như nguồn lực chính của phát triển, là trường hợp Trung Quốc. Tuy nhiên, nét tương đồng của khối này là thông tin thiếu minh bạch, thị trường thăng giáng thất thường, quản trị kém về kinh doanh và quản lý kém về kinh tế. Vì vậy họ mới là “đang phát triển.”
Người ta đã chủ quan nhìn vào quy luật vận hành của các nước đã phát triển mà đánh giá các nền đang phát triển và vì vậy nhận định sai về những rủi ro khi đầu tư.
Các nước đã phát triển đều tiến lên trình độ trưởng thành với mức tăng trưởng thấp, nghĩa là doanh lợi đầu tư cũng thấp hơn các thị trường mới nổi, là nơi có thể kiếm lời rất nhanh và nhiều, mà cũng bị rủi ro lớn. Người ta đánh giá sai những rủi ro tại Trung Quốc, nên mới hồ hởi sảng.
Các quỹ đầu tư vào thị trường Hoa lục, hay “chuyên gia về Trung Quốc” còn tác động vào dư luận qua truyền thông báo chí để chỉ nhấn mạnh đến phần tích cực của Trung Quốc và càng làm dư luận nhìn sai sự thật.
Chuyện sai lầm này còn dễ xảy ra khi công chúng suy đoán rằng tương lai là một nối tiếp hay phóng dội của quá khứ. Vì kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 10% một năm so với 2-3% – hay còn thấp hơn – của khối công nghiệp hóa, tương lai sẽ là một sự vượt bậc. Làm ăn tại các nước đã phát triển mà lời được 5% một năm thì khó, chứ tại Trung Quốc thì có thể lời gấp ba.
Hai sai lầm ấy – nhìn sai quy luật bất trắc của các nước đang phát triển và cả tin vào kết quả đã qua để dự báo tương lai – là lý do phổ biến nhất.
Lý do thứ ba thuộc một lãnh vực chuyên môn hơn. Kinh tế các nước đều phải có khả năng phát triển bình hòa tự nhiên chứ không thể mãi mãi trông cậy vào sự kích thích của nhà nước. Biện pháp kích thích là bất thường và hãn hữu khi sản xuất sút giảm, và phải chấm dứt để khỏi là liều thuốc đổ bệnh. Một thí dụ là kinh tế Hoa Kỳ được kích thích với ba đợt QE, là điều bất thường.
Khi tình hình đã khả quan hơn thì việc bơm tiền phải giảm dần và lượng tiền bơm ra sẽ phải được hút về. Tháng Sáu vừa qua, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ gọi việc điều chỉnh này là “taper,” vuốt lại biện pháp kích thích. Trong mấy ngày qua, khi giới chức ngân hàng dự trữ tại Dallas, Chicago rồi St. Louis, Cleveland nhận định là tháng Chín này thì có thể hãm đà bơm tiền, các thị trường cổ phiếu đều rớt giá vì sợ mất cơ hội kiếm lời. (Bài “Kinh tế cũng là Chính trị” của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa có giải thích chuyện đó trên cột báo này vào Thứ Ba vừa qua).
Tại Trung Quốc, biện pháp kích thích bằng đầu tư và tín dụng của nhà nước còn cao gấp bội nếu so với Hoa Kỳ và khi khối tín dụng ấy vượt quá 220% Tổng Sản Lượng GDP trong có mấy năm thì người ta phải thấy là có sự gì đó rất bất thường. Vài con số sau đây có thể cho thấy sự bất thường đó:
Kinh tế Hoa Kỳ có sản lượng cỡ 16 ngàn tỷ đô la, biện pháp kích thích kiểu QE từ 2008 đến nay lên tới khoảng hơn hai ngàn 400 tỷ, đang được coi là quá lớn nên phải “vuốt lại.” Kinh tế Trung Quốc có sản lượng chừng tám ngàn tỷ mà lại được kích thích bằng tín dụng đến 23 ngàn tỷ đô la thì sẽ là liều thuốc đổ bệnh.
Nhưng vấn đề không chỉ là những nhận định sai lầm trong giai đoạn ngắn hạn từ sau vụ Tổng suy trầm. Nền kinh tế Trung Quốc có nhiều nhược điểm sâu xa hơn. Cho nên sau một vụ khủng hoảng tài chánh vì bơm tiền quá nhiều thì sẽ còn bị một vụ khủng hoảng kinh tế.
Chúng tôi xin liếc qua chuyện đó trong cơ cấu kinh tế Trung Quốc.
Nhược điểm căn bản và sâu xa

Sau khi Ðặng Tiểu Bình tiến hành cải cách từ đầu năm 2009, Trung Quốc chỉ áp dụng chiến lược phát triển của Nhật Bản, lấy đầu tư và xuất cảng làm lực đẩy. Kết quả ngoạn mục mà không là phép lạ là lực lượng lao động đã được giải phóng.Mấy trăm triệu dân được phép làm ăn mà không bị trưng thu hay cấm đoán như dưới thời Mao Trạch Ðông.
Nhưng kết quả cứ gọi là ngoạn mục ấy cũng là những thống kê không đáng tin, cao hơn thực tế, và lại che giấu những phí tổn phi kinh tế hay vô hình vì khó đếm: sự hủy hoại môi sinh. Giải quyết bài toán môi trường này sẽ là một nan đề của tình trạng “tăng trưởng thiếu phẩm chất.” Trung Quốc sẽ mất nhiều thế hệ cho bài toán này.
Hiện tượng tăng trưởng thiếu phẩm chất còn có một tai họa cụ thể và dễ thấy hơn: sự lãng phí trong đầu tư.
Nhiều dự án hay kế hoạch có giá trị kinh tế rất thấp vẫn cuốn hút tài nguyên của nhà nước, gây vấn đề cho môi sinh và thổi lên bong bóng đầu cơ. Chúng được duy trì vì đem lại lợi lộc cho các đảng viên cán bộ và tay chân thân tộc. Nghĩa là Trung Quốc đầu tư rất nhiều với kết quả rất thấp và gây lãng phí rất cao mà nhà nước vẫn cứ bơm tiền kích thích nên sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chánh vì doanh nghiệp phá sản và ngân hàng vỡ nợ.
Một nhược điểm khác còn sâu xa hơn nữa, đó là địa dư hình thể cực kỳ bất lợi của Trung Quốc.
Khu vực duyên hải là nơi dễ sống và tạo lực đẩy cho xuất cảng nên thu hút đầu tư rất mạnh vì tương đối có hiệu năng đầu tư cao hơn. Khu vực nội địa, nơi sinh sống của 900 triệu người trên hai phần ba diện tích toàn quốc, mới là vùng lạc hậu.
Hiệu năng đầu tư ở nơi đây quá thấp và ít được chú ý nên đào sâu sự dị biệt và bất công. Chính quyền trung ương tại Bắc Kinh có thấy vấn đề và đã nhiều lần tìm cách điều chỉnh kể từ hai chục năm nay mà chưa thành công. Một trong nhiều nguyên do là sự cưỡng chống hay cản trở của các đảng bộ địa phương.
Trung ương không mạnh như người ta thường nghĩ và hệ thống chính trị Trung Quốc không khắc phục được bài toán này của thiên nhiên và địa dư hình thể.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng thiếu rất nhiều tài nguyên. Loại chiến lược là năng lượng hay cả thực phẩm thì vẫn phải nhập cảng. Loại sinh tử vì không có thì chết, là nước ngọt, lại còn khan hiếm hơn. Lãnh đạo xứ này đã lạm thác rặng Hy Mã Lạp Sơn và thượng nguồn của các dòng sông lớn để tìm ra nước mà không xong. Họ đã lấy nước sông Trường giang (Dương Tử) để bổ sung cho Hoàng Hà và gây ô nhiễm nặng mà vẫn thiếu nước, trong khi 90% mạch nước ngọt đều bị nhiễm độc.
Sức mạnh sau cùng là dân số rất đông thì cũng bắt đầu có vấn đề sau ba chục năm kế hoạch hóa gia đình theo kiểu “mỗi hộ một con.” Dân số Trung Quốc hết tăng và sẽ giảm từ năm 2026 và tỷ lệ cao niên đang thành gánh nặng mà thành phần đang ở tuổi lao động sẽ phải cưu mang. Tức là Trung Quốc cũng bị hiện tượng lão hóa và không thể tăng trưởng mạnh như trước.
Sau cùng, khi nhược điểm của chiến lược tăng trưởng bằng đầu tư và xuất cảng đã tỏ lộ, lãnh đạo của họ phải tìm cách cân bằng lại lực đẩy, là nâng cao khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa.
Ðấy là trọng tâm của kế hoạch cải cách và chuyển hướng. Nhưng chưa chắc là họ sẽ thành công vì những nhược điểm tích lũy vừa nói ở trên, kể cả sự cản trở của các nhóm lợi ích ngay trên thượng tầng. Nếu như có thành công thì trong 10 năm tới, đà tăng trưởng sẽ sút giảm mạnh, ở dưới mức 5% một năm và có thể còn thấp hơn. Rủi ro xã hội và chính trị của mức tăng trưởng thấp có thể đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Kết luận ở đây là gì?

Trung Quốc sẽ phải chuyển hướng và cải cách theo quy luật tự do hơn của tư bản chủ nghĩa thì mới thoát hiểm về kinh tế. Ðấy là chủ trương của thế hệ lãnh đạo mới. Nhưng khi ấy, đảng sẽ gặp mâu thuẫn về chính trị hay tư tưởng. “Xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Quốc” của một đảng Cộng sản có còn giá trị gì không? Ðây là câu hỏi cho học giả hàn lâm! Một cách lạc quan thì thế giới có cả chục quốc gia đông dân khả dĩ bù đắp vào giai đoạn sa sút của Trung Quốc nên sẽ thu hút đầu tư và tìm ra cơ hội mới. Nhưng trong số này KHÔNG có Việt Nam vì lãnh đạo Hà Nội học đúng bài bản của Trung Quốc nên kinh tế đang bị khủng hoảng.

Và khi Trung Quốc có loạn, hoặc nếu Trung Quốc có loạn, Việt Nam sẽ bị hậu quả đầu tiên.

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Vòng quay của tiền

mấy năm nay ai ai cũng thấy cuộc sống khó khăn ngột ngạt, họ kiếm tiền khó khăn hơn trước rất nhiều. Vậy có phải nền kinh tế này đang thiếu tiền, không không phải vậy nền kinh tế này đang có nhiều tiền hơn mức cần thiết nhưng tại sao mọi người vấn khó kiếm tiền. Đó là vì vòng quay của tiền hiện tại chỉ là 0.8 lần trong khi đó năm 2010 vòng quay của tiền là 2.5 lần, mọi người cứ tưởng tưởng thế này cho dễ hiểu năm 2010 tổng lượng tiền trong xã hội khoảng 3 triệu tỷ vòng quay của tiền là 2.5 lần vậy có nghĩa là xã hội đã chung chuyển số tiền 7.5 triệu tỷ như vậy mọi người kiếm tiền rất rễ chính vì vậy mà ai ai cũng hào phóng chi tiêu dẫn đến con số lạm phát năm 2011 là 18%. còn như năm 2012 và 2013 nền kinh tế có khoảng 4 triệu tỷ đang lưu thông nhưng số tiền chung chuyể chỉ có 3.2 triệu tỷ chính vì vậy mà mọi người mới thấy tiền mặt cực kỳ khan hiếm rất khó kiếm tiền và do đó chi tiêu bị thắt chặt lạm phát sẽ giảm. Điều hành kinh tế của chính phủ giống như điều chỉnh huyết áp của một con người nếu để vòng quay của tiền quá nhanh cũng không có lợi nhưng nếu để huyệt áp tụt như hiện nay thì nó cũng giống như một cơ thể lừ đừ không còn sức sống .

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Trở lại chuyện GDP và GNI

Trở lại chuyện GDP và GNI
Nếu tính cho đúng thì tổng thu nhập quốc dân của Việt Nam năm ngoái bị giảm đi 7,5 tỷ đô-la; thu nhập đầu người của dân Việt Nam giảm 196 đô-la. Số giảm này chạy đi đâu, vào tay ai và vì sao có chuyện kỳ lạ này?
Đầu tư nước ngoài (cả trực tiếp lẫn gián tiếp) ngày càng chiếm một tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế. Chỉ cần quan sát trên thị trường cũng có thể thấy từ những sản phẩm đơn giản như bột giặt, kem đánh răng đến các sản phẩm lâu bền như TV, tủ lạnh rồi những sản phẩm đắt tiền như máy tính, xe hơi… toàn là hàng của các doanh nghiệp FDI sản xuất hay lắp ráp. Đầu tư nước ngoài hiện đang lấn sang những lãnh vực trước đây là của doanh nghiệp trong nước như nhà hàng và nhiều loại dịch vụ, mua nông sản như cà phê, sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, bán lẻ. Lần lượt các tên tuổi trong nước gầy dựng từ thời mở cửa đến nay đã sang tay cho nhà đầu tư nước ngoài.
Có cách nào để đo lường sự thay đổi này?
Có lẽ mọi người đều biết ngoài GDP ra, người ta còn tính GNI để biết chính xác hơn công dân một nước làm ra bao nhiêu để loại trừ công dân nước ngoài đang làm ăn trên nước họ. Trong khi GDP (tổng sản phẩm quốc nội) tính theo địa bàn lãnh thổ thì GNI (tổng thu nhập quốc dân) tính theo công dân hay pháp nhân của nước đó, bất kể họ đang ở đâu. Bởi vậy một nhà máy của người Nhật đầu tư ở Việt Nam thì lợi nhuận ròng của họ được tính vào GNI của Nhật chứ không phải của Việt Nam. Nói cách khác, GNI bằng GDP + thu nhập sở hữu – chi trả sở hữu.
Số liệu của World Bank (GDP và GNI theo giá thực tế) cho thấy chênh lệch giữa GDP và GNI của Việt Nam ngày càng lớn (xem bảng).
                   2003   2004   2005   2006   2007   2008   2009   2010   2011   2012
GDP (tỷ USD)   39,5   45,4    52,9    60,9     71       91       97,2   106,4   123,7  141,7
GNI (tỷ USD)   38,9    44,6    51,9   59,5      68,8    88,1    92,6   102     117,8   134,2
Chênh lệch    0,6      0,8      1        1,4        2,2      2,9     4,6      4,4     5,9      7,5
(tỷ USD)
GDP đầu người        492    558    642    731    843    1.070  1.130  1.224  1.408  1.596
GNI đầu người         480    550    630    700    790    920    1.030  1.160   1.270  1.400
Chênh lệch                   12          8        12       31      53      150          100        64        138        196
(USD)
(Nguồn: World DataBank)
Chênh lệch năm ngoái lên đến 7,5 tỷ đô-la là rất lớn so với cách đây 10 năm, chênh lệch chỉ 0,6 tỷ đô-la mặc dù lúc đó Việt Nam đã mở cửa cho đầu tư nước ngoài đã hơn 15 năm. Còn thu nhập đầu người chênh nhau gần 200 đô-la, cũng là con số đáng lo khi vào năm 2003, mức cách biệt chỉ là 12 đô-la.  
Đáng chú ý hơn, nhiều dữ kiện cho thấy mức chênh lệch này ngày sẽ càng lớn hơn trong những năm sắp tới. Đó là hiện nay đầu tư nước ngoài chưa đưa thu nhập ròng về nước nhiều, họ dùng nó để mở rộng đầu tư. Thứ hai, khi việc trả lãi nợ nước ngoài ngày càng nhiều thì tương lai GNI lại càng nhỏ hơn GDP bởi trả nợ nước ngoài thì GDP vẫn không thay đổi trong khi sẽ làm GNI giảm đi tương ứng. Thứ ba, nếu các doanh nghiệp trong nước bán một phần tài sản của mình cho nhà đầu tư nước ngoài, GDP vẫn y nguyên nhưng GNI bị khấu trừ. Một bài viết trên TBKTSG của Bùi Trinh vào năm 2010 từng nhận định: “Nếu năm 2000 phía Việt Nam phải chi trả cho nước ngoài 6.300 tỉ đồng thì đến năm 2009 phần phải chi trả sở hữu cho nước ngoài lên đến gần 91.000 tỉ đồng, chủ yếu là lãi tiền vay và doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước”.
Người bi quan có thể cho rằng nếu xu hướng này tiếp diễn, chẳng bao lâu nữa, GDP Việt Nam vẫn tăng nhưng thu nhập đầu người Việt Nam chẳng tăng thêm bao nhiêu và cuối cùng thu nhập ấy dồn về cho người nước ngoài cả. Cũng trong bài báo của Bùi Trinh đã trích dẫn ở trên, tác giả cho biết: “Tốc độ chi trả sở hữu ra nước ngoài tăng bình quân hàng năm khoảng 34% (còn GDP tăng bình quân 7,3%)”, tức tiền trả cho nhà đầu tư nước ngoài tăng nhanh hơn tốc độ tăng GDP nhiều lần, dẫn đến chênh lệch giữa GDP và GNI ngày càng lớn là chuyện không thể tránh khỏi.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế đang lâm vào cảnh bế tắc, nền kinh tế dân doanh gây dựng từ sau đổi mới đến giờ đã cạn sức, co cụm và phòng thủ, để tạo công ăn việc làm, để xã hội không rơi vào chỗ xáo động, càng khó khăn hơn nữa, việc nhà đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế vẫn là xu hướng tích cực hơn là đáng lo ngại. Nhưng đây là xu hướng không mong muốn về lâu về dài và mọi nỗ lực phục hồi nền kinh tế trong dài hạn phải tính đến chuyện nâng sức cho khu vực kinh tế trong nước để con số tăng trưởng GDP thường được nhắc đến là có ý nghĩa thật sự cho người dân, chứ không phài chủ yếu cho nhà đầu tư nước ngoài. Nhìn vào số liệu trên cũng có thể thấy tăng trưởng GDP thường cao hơn tăng trưởng GNI hay nói cách khác, nhìn vào GDP không thôi thì sẽ ảo tưởng hơi nhiều về sự thật sức mạnh của nội lực kinh tế trong nước. Điều cuối cùng, chênh lệch giữa GNI và GDP càng lớn thể hiện mức độ dễ tổn thương của kinh tế Việt Nam với những cú sốc của dòng vốn ngoại.

Chỉ còn biết hy vọng đến lúc nền kinh tế phục hồi, biết đâu sẽ có làn sóng mua lại sản nghiệp từ tay người nước ngoài. Và hiện nay cũng đã có nhiều doanh nghiệp tìm đường làm ăn ở bên ngoài. Biết đâu tương lai họ sẽ góp phần vào GNI của Việt Nam một cách đáng kể.

Cập nhật: Anh Vũ Quang Việt có góp ý: GNI và GDP đều không dựa vào khái niệm công dân (citizens) mà chỉ dựa vào khái niệm thường trú - residents (tức là ở một địa bàn kinh tế hơn 1 năm). Mặc dù trong trường hợp Việt Nam 99,9% residents là citizens nhưng phải dùng từ chính xác để khỏi hiểu sai. Cám ơn anh Việt.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Căn hộ, biệt thự tại Hà Nội vẫn tiếp mạch giảm giá

Cả phân khúc căn hộ chung cư lẫn biệt thự, liền kề tại Hà Nội vẫn đang có xu hướng giảm giá trong bối cảnh thanh khoản chưa được cải thiện.

Báo cáo kết quả khảo sát thị trường bất động sản Hà Nội trong quý 2/2013 của Savills Việt Nam cho thấy, thị trường biệt thự, nhà liền kề tại Hà Nội sau nhiều quý liền sụt giảm, hiện vẫn chưa có dấu hiệu tích cực.

Trên thị trường, dạng hợp đồng mua bán có thêm 150 căn từ dự án Nam An Khánh tại huyện Hoài Đức, còn lại không có nguồn cung mới được đưa ra thị trường dạng hợp đồng góp vốn.

Tống số căn toàn thị trường khoảng 42.000 căn từ 124 dự án, trong đó, khoảng 29.900 căn nhà gồm 16.900 nhà liền kề và 13.000 biệt thự đến từ 101 dự án hợp đồng mua bán. Nguồn cung còn lại đến từ các dự án dạng hợp đồng góp vốn

Khảo sát của Savills cho thấy thanh khoản của thị trường vẫn thấp. Giá chào bình quân của toàn thị trường giảm 2% ở hạng mục biệt thự và 5% ở hạng mục liền kề so với quý trước, mức giảm thấp nhất trong gần 1 năm trở lại đây.

Giá chào thứ cấp trung bình tại các quận nội thành dao động từ 20 - 150 triệu đồng/m2, trong khi đó giá chào thứ cấp trung bình tại vùng ven đạt mức cao nhất 50 triệu/m2 tại quận Hà Đông.

Theo bà Đỗ Thị Thu Hằng, Giám đốc bộ phận nhà ở của Savills, tuy thị trường vẫn trong xu hướng sụt giảm, song có một vài yếu tố được cho thúc đẩy phân khúc này, khi mà tâm lý chung của người Việt vẫn xem nhà đất, nhà xây riêng lẻ vừa là dạng nhà ở tốt nhất vừa là kênh đầu tư dài hạn và an toàn, đặc biệt là những căn nhà có chứng nhận pháp lý về quyền sử dụng đất. Có đến 93% tổng dân số sở hữu nhà riêng, điều này sẽ hỗ trợ cho thị trường biệt thự và nhà liền kề, tất nhiên phải đi kèm điều kiện là các mức giá phải trở nên hợp lý hơn.

Bên cạnh đó, hiện mức trần lãi suất huy động tiếp tục giảm 0,5% về mức 7%/năm có thể dẫn đến việc lãi suất cho vay tiếp tục giảm, hỗ trợ thêm cho thị trường nhà ở; đồng thời nó cũng có thể khiến cho các nhà đầu tư và những người giàu có chuyển hướng kênh đầu tư của họ sang bất động sản thay vì việc gửi ngân hàng.

Cùng với đó, số dự án tương lai có thể giảm trong các năm tới do UBND thành phố Hà Nội quyết định dừng cấp phép cho các dự án nhà ở thương mại từ nay đến hết năm 2014 và các dự án đã trì hoãn triển khai trong thời gian dài có thể bị rút giấy phép.

Đối với phân khúc căn hộ chung cư, trong cả quý 2/2013, có tất cả 8 dự án mới tại các quận Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai và Từ Liêm gia nhập thị trường, cung cấp khoảng 2.100 căn. Tổng nguồn cung sơ cấp đạt 11.700 căn, tăng 7% so với quý trước. Trong đó Hà Đông và Từ Liêm là nguồn cung chính, chiếm 51% thị phần. Cầu Giấy, Từ Liêm và Hà Đông cũng là nguồn cung chính của thị trường thứ cấp, chiếm tổng số 53% thị phần.

Giá chào bán sơ cấp dao động từ 10 - 94 triệu/ m2, không thay đổi so với quý trước. Tỷ lệ hấp thụ đạt 7%, tăng 2 % so với quý trước do tình hình hoạt động tốt của các dự án có tiến độ xây dựng nhanh và giá hợp lý, đặc biệt là phân khúc bình dân tiếp tục chiếm thị phần lớn thị trường với 74% tổng số căn bán được.

Tuy nhiên, giá chào bán thứ cấp trung bình của phân khúc này đã giảm ở tất cả các quận/huyện do thanh khoản thấp. Mức giảm cao nhất là ở huyện Từ Liêm với mức giảm 7% so với quý trước, theo sau là các quận Long Biên, Ba Đình và Cầu Giấy với mức giảm cao nhất là 5% ở mỗi quận.

Trong quý 2 vừa qua thị trường cũng chứng kiến số dự án bán căn hộ xây thô tăng do chủ đầu tư muốn giảm mức giá thành mỗi căn hộ nhằm thu hút thêm người sử dụng cuối cùng.

Theo thống kê của Savills, tổng nguồn cung tương lai đạt khoảng 63.900 căn từ 109 dự án, phân bố chủ yếu tại các khu vực Hà Đông và Từ Liêm, cung cấp khoảng 31.000 căn, chiếm 49% tổng nguồn cung tương lai.

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013

"Sóng" đầu cơ USD

NHNN khẳng định tỷ giá năm 2013 sẽ tăng không quá 3%. Nhưng những diễn biến gần đây cho thấy, nếu không “mạnh tay” dẹp tình trạng đầu cơ USD của một số ngân hàng thì mục tiêu trên sẽ rất khó khăn.

“Đô” chợ đen tăng mạnh
Áp lực của tỷ giá ngày càng thể hiện rõ khi trong những ngày qua hầu hết các ngân hàng đều tăng giá mua bán USD kịch trần cho phép. Hiện tại với biên độ +/- 1%, các ngân hàng thương mại (NHTM) được niêm yết tỷ giá sàn là 20.826 đồng/USD và trần 21.246 đồng/USD.
Ngày 8.7, giá mua - bán USD của Vietcombank ở mức 21.230 đồng - 21.246 đồng; Eximbank ở mức 21.220 đồng và 21.246 đồng/USD…. Trong khoảng 10 ngày trở lại đây, giá USD liên tiếp được các NH niêm yết giá kịch trần biên độ cho phép. Trên thị trường chợ đen, giá ngoại tệ này mỗi này một nóng, giá USD ngày 8.7 tăng từ 50 - 100 đồng/USD so với cuối tuần qua. Tại một số điểm giao dịch ngoại tệ tự do tại Hà Nội báo giá USD ở mức 21.740 - 21.750 đồng (mua vào) và 21.810 - 21.820 đồng (bán ra). Còn tại TP.HCM, giá USD tự do ở khoảng 21.820 - 21.850 đồng/USD, một số điểm đẩy giá lên cao 22.000 đồng/USD.
Lý giải tỷ giá tăng nóng, trưởng phòng ngoại hối một NH cho biết, do nguồn cung USD không có nên giá đã bị đẩy lên. Bên cạnh đó, trước đây khi lãi suất tiền đồng ở mức cao, nhiều NH bán USD lấy tiền đồng cho doanh nghiệp (DN) vay hưởng lợi. Nay họ thực hiện mua lại nên nhu cầu ngoại tệ tăng lên. TGĐ một NHTM cổ phần thì dự báo, cầu ngoại tệ càng tăng ở nửa cuối năm khi toàn hệ thống phải nỗ lực đạt mức tăng trưởng tín dụng 12%, bình quân khoảng 1%/tháng. Kéo theo các DN phải dùng ngoại tệ để nhập khẩu nguyên, nhiên liệu dùng cho sản xuất kinh doanh. Nắm bắt được xu hướng này, nhiều nhà băng lớn đã nâng giá bán USD trên thị trường ngoại hối liên NH, kể cả giá giao ngay và có kỳ hạn.
Còn theo một chuyên gia kinh tế, các NH lớn tạo "sóng" tỷ giá, các NH nhỏ dù biết, nhưng cũng phải cắn răng mua vào ngoại tệ để cải thiện hơn trạng thái ngoại hối, sẵn sàng phục vụ khách hàng ruột của mình trong thời gian sắp tới. Đây là nguyên nhân chính lý giải vì sao các NH cổ phần lớn, nhỏ cũng phải áp giá mua bán USD kịch trần. Có lẽ nắm bắt được nhu cầu đầu cơ USD từ khối NH mà những phiên gần đây NHNN gần như không bán USD. Điều này đã thúc đẩy giá USD trên thị trường liên NH và tự do tăng chóng mặt.
Chuyên gia kinh tế này cũng nhận định, một lý do nữa là thời gian qua NHNN đã “bơm” hơn 1 triệu lượng vàng qua đấu thầu. Với mức giá bình quân khoảng 38 triệu đồng/lượng, và tỷ giá bằng tỷ giá liên NH trước đó tức 20.828 đồng/USD thì đơn vị này phải dùng hơn 1,8 tỉ USD để nhập khẩu vàng. Trong khi mức chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới bị kéo xa, lên tới 6 triệu - 7 triệu đồng/lượng khiến giới nắm giữ USD không “cam lòng”, đẩy giá USD tăng tính theo giờ nhằm chia sẻ lợi nhuận từ vàng.
Áp lực cục bộ
Sau hơn 1 năm rưỡi giữ đồng nội tệ ổn định so với USD, ngày 28.6, NHNN đã phải điều chỉnh tỷ giá bình quân liên NH giữa VND và USD tăng thêm 1%, từ mức 20.828 đồng/USD lên 21.036 đồng/USD. Lý do chủ yếu cho đợt điều chỉnh này, theo NHNN nhằm phản ánh chính xác hơn cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, cũng như cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối.
Theo đánh giá của nguyên Thống đốc NHNN Cao Sĩ Kiêm, việc điều chỉnh tỷ giá 1% đợt vừa rồi chứng tỏ những áp lực từ thị trường ngoại hối là có thật, nhưng sau ngày điều chỉnh sự gia tăng áp lực lớn hơn, chứng tỏ mức điều chỉnh này chưa thể “triệt tiêu” được hành vi đầu cơ, cũng như thỏa mãn được nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận của những “nhà buôn” chuyên nghiệp là các ngân hàng lớn, chuyên kinh doanh ngoại tệ. Đặc biệt, một yếu tố cộng hưởng khác là việc dư dả, thừa ứ tiền đồng khiến nhiều NHTM cũng đã quay sang dùng tiền đồng mua ngoại tệ kinh doanh.
Theo Phó thống đốc NHNN Nguyễn Đồng Tiến, trong thời gian qua nhờ giữ được sự ổn định tỷ giá, NHNN đã mua vào khoảng 5 tỉ USD để tăng dự trữ ngoại hối, và dự báo trong 2013 cán cân thanh toán tổng thể vẫn tiếp tục thặng dư khoảng 4-5 tỉ USD. Rõ ràng, nhìn vào các con số trên có thể thấy NHNN vẫn có thể đảm bảo ổn định cân đối được cung - cầu ngoại tệ.
Vấn đề còn lại nếu không mạnh tay “dẹp” nạn đầu cơ, làm giá USD, để các NH chạy theo lợi nhuận cục bộ gây áp lực lên tỷ giá như nói trên có thể buộc nhà quản lý phải hút tiền đồng về. Khi các NHTM không còn dư dả thanh khoản thì mục tiêu giảm lãi suất, hỗ trợ khó khăn cho các DN, nền kinh tế càng trở nên xa vời.
Theo Anh Vũ - Thanh Xuân
Thanh niên

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

Thống đốc Bình đã quá tự tin

Tròng vòng 1 năm trở lại đây từ khi ra nghị định 24 về quản lý vàng thì thống đốc Nguyễn Văn Bình luôn coi việc tỷ giá ổn định là một chiến tích. Nếu so sánh với năm 2010 - 2011 thì đúng là như vậy nhưng nếu xét về hoàn cảnh diễn biến tỷ giá năm 2012 và đầu năm 2013 thì điều đó gần như là tất yếu bởi một khi lãi xuất huy động VND lên đến 20-21% và lãi xuất đối với đồng USD chỉ là 2% thì đồng USD không tăng giá được là dễ hiểu, thêm vào đó trong năm 2012 - 2013 do lực sản xuất nội địa quá yếu dẫn đến tình trạng chúng ta chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu thì làm gì có cơ hội cho đồng usd tăng giá. Nhưng đến ngày hôm nay 6-7-2013 tỷ giá đã lên tới 21750 đồng/ usd và tôi chắc cứ đà này thì nó sẽ nhanh chóng cán đích 22000 đồng/ usd vì sao như vậy có 3  yếu tố. Thứ nhất là khoảng cách chênh lệch giữa lãi xuất giữa tiền đồng và usd đã xuống gần sát nhau chỉ còn khoảng 4- 5 %, với mức này thì rất nhiều người dân sẽ chuyển sang đồng usd. Thứ hai là nhập khẩu đã có dấu hiệu tăng và 6 tháng đầu năm chúng ta đã nhập siêu là 1.4 tỷ usd thay vì xuất siêu như năm 2012. Thứ ba là giá vàng việt nam chênh lệch khá lớn so với thế giới dẫn đến tình trạng giới buôn vàng gom đô để nhập lậu vàng

Thứ Sáu, 5 tháng 7, 2013

Khi Nào Tiền Mới Chẩy

Nhiều người than với tôi sao dạo này khó kiếm tiền quá, còn mấy anh ngân hàng lại nới với tôi dạo này ngân hàng có thừa tiền mà không cho vay ra được. Thực ra mọi việc đơn giản thôi là hiện tại việt nam đang rơi vào tình trạng đóng băng tín dụng nghĩa là tiền không chẩy vào được nên kinh tế , vì sao vậy. Trước tiên chúng ta hãy xem lại quá khứ và hiện tại xem có gì khác nhau không.đầu năm 2012 lãi suất cho vay lên tới 25% , trước tình cảnh đổ vỡ hàng loạt chính phủ đã cấp tập hạ lãi suất huy động từ 14% về 8 % vào cuối năm và khi đó tín dụng đã từ mức tăng trưởng 0% trong 6 tháng đầu năm đã tăng 8.91 % khi kết thúc năm ( tính cả trái phiếu chính phủ ).còn năm nay thì sao NHNN đã kéo lãi suất từ 8% về 7% và dự địa giảm lãi suất đã hết, thì chúng ta có thể thấy mức độ là không đáng kể và sẽ chẳng có hi vọng gì cho việc đẩy tín dụng ra thị trường. Lãi suất giờ đây không còn là cây đữa thần nữa rồi, vậy làm sao để đẩy tín dụng được . Đó chính là vấn đề mà người ta cãi nhau cả mấy năm mà vần chưa ngã ngũ đó là nợ xấu, không chỉ với Việt Nam nợ xấu trở thành nỗi kinh hoàng với bất kỳ nên kinh tế nào. Nhìn vào hoàn cảnh hiện tại thì chúng ta hoàn toàn có thể tự mình giải quyết nợ xấu, nhưng nếu làm đúng theo sách vở để giải quyết nợ xấu thì nó sẽ đụng chạm đến lợi ích của các nhóm lợi ích đã và đang làm khuynh đảo chính trường việt nam. Khi mà các nhóm lợi ích vẫn chưa thỏa thuận xong phần hơn thiệt khi tiến hành tái cơ cấu kinh tế, thì chừng đó những đề án tái cơ cấu sẽ vẫn chỉ nằm trên bàn và tiền sẽ vẫn không thể chẩy được.

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Không có giải pháp nhanh cho thị trường BĐS

Không thể có giải pháp nhanh hay nhiệm màu cho thị trường BĐS khi hiện nay niềm tin còn yếu và sẽ phải mất thời gian để thị trường phải phục hồi.
Đó là điều mà Tổng giám đốc Công ty Cushman & Wakefield (Vietnam) Chris Brown đã đi vào phân tích để từ đó đưa ra cách hóa giải. Thị trường bất động sản (BĐS) đóng băng của Việt Nam được ông Chris Brown nhìn qua lăng kính của Thái Lan với những khó khăn và chính sách giải cứu nhiều điểm tương đồng. Đó là khi nợ xấu gia tăng, các ngân hàng thắt chặt tín dụng, chủ đầu tư khó tiếp cận được nguồn vốn triển khai những dự án theo đúng tiến độ cam kết, khủng hoảng niềm tin của người mua đã dẫn đến tính thanh khoản của thị trường giảm mà hệ quả tất yếu là suy thoái.
Image
Hiện giá BĐS tại Việt Nam vẫn quá cao so với thu nhập của người dân
 
Những giải pháp hiện nay Việt Nam đưa ra cũng có nhiều điểm tương đồng với Thái Lan đó là các gói tín dụng được bơm vào thị trường để người mua vay dài hạn với lãi suất thấp, Chính phủ hỗ trợ ngân hàng xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, năm 2013, thị trường BĐS Việt Nam vẫn được Cushman & Wakefield nhận định là năm thuộc về khách mua, và giá chào bán dự kiến sẽ tiếp tục giảm.
Lý giải cho tình trạng này là giá vẫn chưa chạm đáy. VAMC là một bước tiến mới nhưng cần phải hiểu rằng giá trị tài sản sẽ không quay lại mức ban đầu. Và không thể có giải pháp nhanh hay nhiệm màu cho thị trường BĐS khi hiện nay niềm tin còn yếu và sẽ phải mất thời gian để thị trường phải phục hồi. Gói kích thích thị trường nhà ở của Chính phủ là đúng hướng nhưng cần thiết phải chi tiết và cụ thể hơn. Việc kêu gọi nguồn vốn đầu tư ngoại cần song hành với việc nâng cao tính minh bạch của cơ chế đầu tư vào thị trường BĐS đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Nghiên cứu của Cushman & Wakefield chỉ ra: “Một trong những rào cản lớn nhất cho việc gia nhập thị trường của nhà đầu tư và cũng là yếu tố lớn nhất để đảm bảo tính sinh lời của dự án BĐS là giá đất”. Hai thành phố lớn của Việt Nam đều có lịch sử duy trì giá đất cao. Trong một thị trường thuận lợi, vấn đề đó có thể được chấp nhận, nhưng trong một thị trường suy giảm thì dự án khó khả thi về khía cạnh tài chính.
Ví dụ, giá đất để xây dự án thương mại ở trung tâm TP. Hồ Chí Minh bằng 85% so với Singapre, trong khi giá thuê văn phòng tại Singapre gấp 2,5 lần TP. Hồ Chí Minh; GDP tính theo bình quân đầu người của Singapre cao gấp 14 lần so với TP. Hồ Chí Minh. “Không cần phải là thiên tài mới nhận ra rằng, nếu các khu đất này không giảm giá, dự án sẽ không khả thi vì giá thuê văn phòng hạng A đã giảm 40% so với năm 2007. Giá đất cần phải thay đổi theo thị trường cũng giống như giá thuê văn phòng và giá nhà/căn hộ”, ông Chris Brown bình luận.
Có một số chủ đầu tư Việt Nam quan niệm, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ nhân cơ hội thị trường BĐS trong nước đang giảm, tìm cách thôn tính những dự án của họ trong 2-3 năm tới.
Tuy nhiên, ông Chris Brown cho rằng thị trường BĐS Việt Nam sẽ không phục hồi nhanh chóng nếu không có sự điều chỉnh kịp thời về giá đất và giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu. Bởi nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn nhận thấy thị trường Việt Nam là thị trường chưa phát triển, tồn tại nhiều rủi ro. Và không ít nhà đầu tư nước ngoài đã chịu tổn thất lớn khi thị trường suy thoái và sẽ không tiếp tục đầu tư vào Việt Nam trong thời gian ngắn. Hay nói cách khác là giá bán tài sản không phải là giá trị sổ sách mà chấp nhận theo giá thị trường.
Hiện tại, những quốc gia thuộc châu Á đã từng đầu tư vào thị trường Việt Nam là có mối quan tâm nhất tới những tài sản thanh lý của Việt Nam, vì họ hiểu biết nhiều về thị trường. Các dự án thanh lý đang được các nhà đầu tư quan tâm nhất, là các dự án có địa điểm tốt, hồ sơ giấy tờ minh bạch, cấu trúc sở hữu hợp lý và giá cả cạnh tranh. “Chúng tôi thấy đang bắt đầu có sự điều chỉnh về giá đất ở Việt Nam”, Chris Brown cho biết.

Theo Thời báo ngân hàng

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Ai tạo ra các đại gia đỏ ở Nga?

Ai tạo ra các đại gia đỏ ở Nga?
Tác Giả : Ngô Nhân Dụng
Kinh nghiệm cải tổ kinh tế ở các nước cộng sản cũ cho thấy ngay các chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, ở Việt Nam gọi là cổ phần hóa, cũng có thể bị các đảng viên cao cấp lợi dụng làm giàu bất công. Các lãnh tụ cộng sản ở nước ta chắc đã chăm chỉ học tập kinh nghiệm Liên Xô, ngày còn chế độ đó cũng như sau khi chế độ sụp đổ. 
Từ năm 1991 đến nay, Cộng Sản Việt Nam cố tình trì hoãn tiến trình thay đổi kinh tế cũng vì rút kinh nghiệm của nước Nga sau khi chế độ cộng sản tàn. Bài học chính mà họ đang thi hành là: Trì hoãn việc cải tổ càng lâu thì họ càng có lợi, trên con đường thu góp của cải. Nhưng ai cũng biết, người ta không thể nào trì hoãn được lịch sử mãi mãi, thế nào cũng có lúc phải bước đi thêm bước mới. Cho nên, đến lúc nào mà đảng Cộng Sản Việt Nam chuyển hướng, thi hành lại chương trình gọi là cổ phần hóa của họ, người dân cũng phải theo dõi kỹ để xem họ có tái diễn những trò biến của công thành tài sản tư như đã xảy ra ở nước Nga trong thời kỳ chuyển tiếp hay không.
Giai cấp “đại gia đỏ” nổi tiếng ở Nga đã thành hình qua chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Người ta thường hiểu lầm rằng ông Boris Yeltsin, tổng thống Nga lúc đó, chịu trách nhiệm về hiện tượng này, và cũng hiểu lầm rằng các chương trình tư nhân hóa đều có thể gây ra nạn tập trung tài sản vào một thiểu số tư nhân, là các đại gia đỏ. Sự thật không đơn giản như vậy. Sự thật là Boris Yeltsin đã bị giai cấp các đảng viên cộng sản nắm ưu quyền thúc đẩy và thao túng, lái cả chương trình tư nhân hóa sang một con đường mà chính họ có thể lợi dụng làm giàu cho chính họ và những tư nhân khôn ngoan biết cộng tác với họ. Cần phải rút kinh nghiệm những thất bại của Yeltsin, vì chính giai đoạn chuyển tiếp đó đã gây ra tình trạng nước Nga bị giai cấp các đại gia đỏ chiếm đoạt và thao túng.
Boris Yeltsin gây nên sự nghiệp trong lòng guồng máy cộng sản, leo lên đến vai trò một ủy viên trong Bộ Chính Trị. Kinh nghiệm chính trị cả đời ông là do guồng máy đó cung cấp, ông ta không biết và cũng không hiểu thế nào là thể chế tự do dân chủ, với những định chế ràng buộc lẫn nhau. Cho nên, khi lên đến đỉnh cao danh vọng sau khi dẹp tan được cuộc đảo chính năm 1991, ông vẫn hành động như một lãnh tụ cộng sản đích thực, do đó đã tự đưa mình vào một cái bẫy mà sau này ông cũng ân hận, thú nhận rằng mình đã bỏ lỡ mất cơ hội.
Vào năm 1991, nếu biết nắm lấy cơ hội thì Yeltsin đã phải giải tán Quốc Hội Nga và những cơ cấu do Quốc Hội đó dựng lên. Ông có thể đứng ra làm thủ lãnh một đảng chính trị, trong lúc phong trào Dân Chủ Nga, một tập hợp của nhiều nhóm có khuynh hướng tự do dân chủ sẵn sàng coi ông là người đứng đầu. Ông có thể tổ chức bầu cử, trong đó thế nào phe đảng của ông cũng chiếm đa số. Ông có thể soạn một Hiến Pháp mới theo mẫu các quốc gia dân chủ tự do đã hoạt động từ vài thế kỷ trước. Chế độ tự do dân chủ dựa trên các luật chơi, mà đảng chính trị đóng vai các cầu thủ. Mỗi đảng chính trị là tập hợp của những nhóm dân chúng có quyền lợi khác nhau, có khi xung đột với nhau. Các đảng chính trị phải đại diện cho các nhóm lợi ích mà họ tập hợp lại, dùng cơ chế bầu cử và tổ chức Quốc Hội làm nơi tranh đấu và thỏa hiệp với nhau. Không có các đảng chính trị thì không thể có sinh hoạt dân chủ.
Boris Yeltsin đã không thành lập đảng, không tổ chức bầu cử để có một Quốc Hội mới, viết bản Hiến Pháp mới. Vì bản chất ông vẫn là một ủy viên Bộ Chính Trị, không có chút kinh nghiệm nào về thể chế dân chủ. Một lãnh tụ cộng sản như ông tin tưởng rằng quyền hành nằm trong tay cá nhân người lãnh tụ. Với uy thế của ông lúc đó, mới được dân Nga bầu lên với số phiếu lớn vào Tháng Sáu năm 1991, mới dẹp tan được cuộc đảo chính vào Tháng Tám, đã dẹp Gorbachev ra bên lề sau khi tách nước Nga ra khỏi Liên Bang Xô Viết và xóa bỏ đảng cộng sản, Yeltsin tin là với uy thế đó ông có thể thi hành bất cứ chính sách hoặc chương trình nào cũng được. Yeltsin tự coi mình đứng trên các đảng phái chính trị, có thể nói là coi thường các đảng phái. Các nhóm tranh đấu cho dân chủ không thể tập hợp lại, trong khi các đảng viên cộng sản cao cấp và trung cấp vẫn còn giữ mối liên lạc mật thiết với nhau vì cùng chia sẻ các quyền lợi chính trị và kinh tế.
Cái bẫy giăng trên đầu Yeltsin, sẵn sàng chụp xuống, là nước Nga lúc đó vẫn còn phải sử dụng một bản Hiến Pháp thời cộng sản. Hơn nữa, bên cạnh ông còn có những định chế như Quốc Hội và Xô Viết Tối Cao, được bầu lên từ năm 1990, khi vẫn còn chế độ cộng sản. Cuộc bầu cử vào Tháng Ba năm 1989 vẫn theo Hiến Pháp thời cộng sản: Ðảng cử, dân bầu. Chỉ những người được đảng cộng sản hoặc các tổ chức phụ thuộc của họ mới được ứng cử. Quốc Hội đó lại bầu lên một Xô Viết tối cao, có quyền hành lớn nhất. Chính Yeltsin không được bầu vào Xô Viết Tối Cao này; cho đến khi một người tự ý rút lui để nhường chỗ, giữ thể diện cho ông. Ðến đầu năm 1990, Quốc Hội Nga mới bỏ phiếu xóa bỏ điều 6 trong Hiến Pháp, chấm dứt độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng trong cuộc bầu cử Quốc Hội nước Nga sau đó, vào Tháng Ba năm 1990, đại đa số các ứng cử viên vẫn là các đảng viên cộng sản. Chính cái Quốc Hội này tập trung giới “quý tộc đỏ,” thường gọi là monenclatura, bao gồm các đảng viên cao cấp và trung cấp, giám đốc các doanh nghiệp nhà nước, đủ mặt những người đang cầm đầu guồng máy cai trị cũng như kinh tế, và đang lo sẽ mất các quyền lợi đó.
Vì vậy, nền chính trị nước Nga diễn ra một cuộc tranh giành quyền hành giữa Yeltsin và Ruslan Khasbulatov, chủ tịch Xô Viết Tối Cao. Ðiều 107 trong bản Hiến Pháp năm 1977 trao cho Xô Viết Tối Cao quyền kiểm soát hành pháp và quyền thay đổi Hiến Pháp. Dựa trên bản Hiến Pháp thời cộng sản, Khasbulatov giải thích rằng Xô Viết Tối Cao nắm quyền lãnh đạo cao nhất trong khi Yeltsin nghĩ rằng mình là tổng thống do dân trực tiếp bầu lên mới nắm quyền! Lúc đầu Khasbulatov tìm cách cộng tác với Yeltsin. Chương trình cải tổ kinh tế của Gaidar được Quốc Hội Nga bỏ phiếu chấp thuận với tỷ số 876/16 vào Tháng Mười năm 1991. Một tháng sau, Quốc Hội trao toàn quyền cho Yeltsin được cai trị bằng sắc lệnh, để cải tổ kinh tế.
Sau khi đã dọ sức và thử thách Yeltsin trong mấy tháng cuối cùng năm 1991, Khasbulatov và các đồng chí quý tộc đỏ thấy họ có thể lấn dần ông tổng thống. Nhân danh Xô Viết Tối Cao, Khasbulatov ra lệnh cho các bộ và cơ quan chính phủ, cho thống đốc Ngân Hàng Trung Ương, và chính ông ký các sắc lệnh có giá trị như luật lệ. Sáu tháng sau khi đã ủng hộ chương trình cải tổ kinh tế của Gaidar, chính Quốc Hội Nga lại bỏ phiếu xóa bỏ chương trình đó, với tỷ lệ 632/231! Trong năm 1992 Khasbulatov đã ban hành 66 mệnh lệnh cho bộ máy nhà nước, rồi trong sáu tháng đầu năm 1993, ông ban ra 630 mệnh lệnh nữa.
Tất cả các mệnh lệnh đó phản ảnh quyền lợi của các cựu đảng viên cộng sản, thuộc giới quý tộc đỏ, và thường trái ngược với các chính sách của đám cố vấn thân cận của Yeltsin; những người có chủ trương cải tổ kinh tế nhanh chóng và toàn diện. Sau khi chương trình cải tổ của Gaidar bị xóa bỏ, Yeltsin phải nhượng bộ, thương thuyết với giới quý tộc đỏ trong Quốc Hội Nga để đưa ra những chính sách phù hợp với quyền lợi của họ; từ đó cả chương trình thay đổi kinh tế nước Nga là do nhóm này quyết định. Ảnh hưởng mạnh nhất, và hậu quả tai hại lâu dài nhất, là họ lái cả chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, để cho các vị quản đốc đương nắm quyền, các thân nhân và các mưu sĩ cố vấn của họ tha hồ chiếm đoạt các xí nghiệp quốc doanh, biến của công thành của riêng.
Chính Khasbulatov còn lo bảo vệ an ninh cá nhân của mình bằng cách tuyển mộ năm ngàn người vào đạo quân bảo vệ Quốc Hội!
Cuộc tranh chấp giữa Yeltsin và Khasbulatov không thể nào giải quyết được, cuối cùng chính Yeltsin phải quyết định “đảo chính,” đưa quân đến vây tòa nhà quốc hội và giải tán Quốc Hội. Ông soạn một bản Hiến Pháp mới vạch rõ giới hạn giữa quyền hành pháp và lập pháp, cố ý dành nhiều quyền hành cho ngôi vị tổng thống. Sau khi Yeltsin “truyền ngôi” cho Vladimir Putin, đến lượt Putin được hưởng những quyền hành rộng rãi, càng ngày càng độc tài hơn.
Vladimir Putin thực ra không xóa bỏ giai cấp đại gia đỏ đã thành hình qua chương trình tư nhân hóa dưới thời Yeltsin, mặc dù ông đã bỏ tù một số và lưu đày một số khác. Putin chỉ thay đổi các khuôn mặt cá nhân nằm trong đám đại gia đỏ. Những người tuân theo lệnh ông vẫn được sử dụng như cũ. Những người không chịu nghe lệnh ông thì bị chèn ép rồi đưa ra tòa, hoặc chạy trốn. Tài sản của đám người này được chuyển sang cho những tay chân của Putin. Chế độ cộng sản ở nước Nga đã biến thành một chế độ tư bản nhà nước, do một thiểu số các đại gia tay chân của một nhà độc tài nắm hầu hết quyền hành và lợi lộc. Ðây là một bài học cho các nước sẽ thay đổi từ độc tài sang dân chủ.

'Trần lãi suất tiết kiệm giảm về 7%'

Một loạt lãi suất huy động, cho vay tiền đồng và đôla Mỹ có thể được điều chỉnh giảm sớm nhất vào ngày mai, theo Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến.
Ngoài kế hoạch giảm 0,5% trần lãi suất tiết kiệm tiền đồng thay vì mức 7,5% hiện nay, Ngân hàng Nhà nước có thể dỡ bỏ trần lãi suất huy động trên 6 tháng. Ngoài ra, nhà điều hành dự kiến sẽ giảm lãi suất huy động USD.
lai-suat3-aq490.jpg
Trần lãi suất huy động tiền đồng kỳ hạn 12 tháng trở xuống hiện là 7,5% một năm, có thể sớm giảm về 7%. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ dỡ trần lãi suất với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Ảnh: Anh Quân
Thông tin này được ông Tiến công bố tại Hội nghị giao ban trực tuyến 6 tháng đầu năm của Chính phủ với các địa phương đang diễn ra. 
Theo ông Tiến, lý do cho lần điều chỉnh này là khả năng kiểm soát lạm phát và dư địa sử dụng công cụ lãi suất. 
"Thống đốc đang chủ trì cuộc họp với cơ quan chức năng và trong thời gian tới, hoặc ngay ngày mai, lãi suất cho vay với 5 lĩnh vực ưu tiên sẽ giảm từ 10% xuống 9% một năm. Còn lãi suất huy động có thể sẽ có điều chỉnh nhất định, dưới một năm là 7,5% có thể giảm về 7% và có thể không quy định trần với tiền gửi trên 6 tháng", ông nói thêm.
Ngoài ra, trong bối cảnh người dân có xu hướng dịch chuyển tiết kiệm từ tiền đồng sang USD, Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ cân nhắc điều chỉnh một bước tiền gửi ngoại tệ, lãi suất tiền gửi dân cư từ 2% có thể giảm xuống mức thấp hơn, tiền gửi tổ chức kinh tế cũng có thể giảm. Tại hội nghị tổng kết ngành ngân hàng hôm 17/6, Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng cho biết dự kiến sẽ giảm thêm lãi suất huy động USD để củng cố niềm tin của người dân vào VND.
bieu-do-laisuat-xin.jpg
Diễn biến trần lãi suất huy động từ tháng 8/2011 đến nay. (*): Dự kiến.
"Nhưng gần như đây là giới hạn điều chỉnh cuối cùng, vì lạm phát khoảng 7% trong khi lãi suất đã giảm về 7%. Có giảm nữa hay không còn phụ thuộc nhiều vào việc kiểm soát lạm phát", Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến nói tại Hội nghị Chính phủ.
Theo ông, giảm mạnh lãi suất cho vay khiến thu nhập của tổ chức tín dụng bị ảnh hưởng đáng kể, nhiều đơn vị không còn lãi. Chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra nếu chưa thực hiện dự phòng chỉ còn 3%, trong khi đã thực hiện dự phòng chỉ 1,93%, theo Phó thống đốc.
Dự kiến chiều nay Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố chính thức về kế hoạch điều chỉnh lãi suất.
Đây là lần điều chỉnh lãi suất huy động thứ 7 của Ngân hàng Nhà nước từ đầu năm 2012, từ mốc 14% một năm. Mặt bằng lãi suất cho vay kể từ đó tới nay cũng giảm đáng kể. Lãi suất đến nay vẫn được xem là một trong những công cụ chính được Ngân hàng Nhà nước sử dụng để kỳ vọng khơi thông tín dụng cho nền kinh tế. Đến 20/6, tín dụng toàn nền kinh tế tăng trưởng 3,31%.
Cũng tại Hội nghị giao ban trực tuyến này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước về quản lý thị trường vàng. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu đúng hạn 30/6, các ngân hàng phải tất toán tài khoản và không gia hạn cho bất kỳ ngân hàng nào. Trước yêu cầu này, Phó Thống đốc cho biết đang theo dõi hàng ngày để thực hiện đúng lộ trình.
Huyền Thư - Thanh Lan

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Vàng rớt giá, nhưng chi phí sản xuất thực là bao nhiêu?

Việc vàng rơi giá mạnh khỏi ngưỡng $1400/ounce trung tuần tháng 4 khiến nhiều người mãi đi tìm nguyên do. Nhưng khi xem xét chi phí sản xuất 1 ounce vàng, cụ thể ở tập đoàn Barrick (Barrick Gold Corporation), công ty sản xuất vàng lớn nhất thế giới hiện nay, hẳn nhiều người trong chúng ta không khỏi sốc khi biết giá thành 1 ounce vàng.
Khi xem xét các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của Barrick, biểu đồ dưới đây cho thấy xu hướng chi phí sản xuất 1 ounce vàng thay đổi qua các năm như sau:
 
Với:
1. Spot price: giá giao ngay trung bình của vàng ở năm trước đó.
2. Cash cost: chi phí tiền mặt sản xuất 1 ounce vàng, tính ở mức trung bình cho toàn năm đó. Cần lưu ý rằng chi phí sản xuất có thể thay đổi theo các năm theo giá vàng, do người sản xuất sẵn sàng chi mạnh hay cắt giảm chi phí tùy tình hình thị trường một cách linh hoạt.
Ví dụ: Một công ty khai thác mỏ có nhiều loại quặng khác nhau để khai thác. Những loại quặng cao cấp chứa hàm lượng vàng trên một tấn khai thác hơn các loại quặng cấp thấp. Mục đích quản trị trong dài hạn ở các công ty khai thác mỏ là làm sao duy trì tính hiệu quả sản xuất và lợi nhuận trong vòng đời sản xuất. Khi giá vàng thấp, các công ty sẽ ưu tiên khai thác các mỏ có quặng cho trữ lượng vàng cao hơn, để bù đắp cho chi phí hoạt động kinh doanh, mà vẫn tạo ra lợi nhuận. Khi giá vàng tăng, các công ty sẽ khai thác các quặng có hàm lượng vàng thấp hơn mà vẫn có lợi nhuận.
3.  Gross Cash Margin: Tỷ lệ giữa giá thành sản xuất và giá bán 1 ounce vàng trong năm.
Dưới đây là những con số thú vị:
  1. Gross Cash Margin: giai đoạn trước năm 2009 trung bình là 48%. Thử tưởng tượng 1 ounce vàng giao dịch ở mức 36 triệu đồng, chi phí sản xuất sản xuất của nó chỉ ở mức xấp xỉ hơn 17 triệu đồng.
  2.  
  3. Chi phí sản xuất tăng mạnh đến 25% từ năm 2011 sang năm 2012. Đây là năm kinh tế có những dấu hiệu hồi phục, vì thế mọi người tự tin giá vàng sẽ tăng lên, do đó, cả Barrick ở góc độ nhà sản xuất cũng sẵn sàng chi mạnh tay hơn cho chi phí sản xuất (chi phí nhân công tăng lên).
  4.  
  5. Trừ khi giá vàng xuống ở mức $400/ounce, các công ty sản xuất vàng như Barrick mới ngừng sản xuất vì lỗ. Nhưng ngày đó còn rất xa, khi tương quan cung cầu sẽ không để trường hợp đó xảy ra.
  6.  
  7. Hiện giá vàng đang giao dịch ở mức $1460.5/ounce, xấp xỉ 36,7 triệu đồng/cây. Giá vàng trong nước hiện đang giao dịch cao hơn giá vàng thế giới 6 triệu đồng/cây (42,7 triệu đồng/cây) trong ngày giao dịch hôm nay, 26 tháng 4.
  8.  
Theo: Alpine Advisor – Seeking Alpha

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Ghi chép - 3 (chuyện tăng trưởng tín dụng)

Ngân hàng Nhà nước đang cố gắng tìm mọi cách để các ngân hàng cho vay nhiều thêm, mức thêm cố gắng chừng 12% so với năm ngoái, bởi phải tăng dự nợ tín dụng tối thiểu ở mức này thì GDP mới tăng như dự tính. Nhưng thay vì thúc giục các ngân hàng thương mại, tại sao không thử hỏi các doanh nghiệp, là nơi đi vay tiền, vì sao họ không thèm vay thêm nữa.
Khác với suy nghĩ bình thường, lãi suất cao nhưng đi kèm lạm phát cao thì không làm doanh nghiệp lo ngại. Đầu năm họ vay một khoản tiền mua nguyên vật liệu về để sản xuất, giá chừng đó; giữa năm bán hàng (giá đã lên) thu tiền về. Vì tình hình lạm phát, hàng bán ra sẽ có giá cao hơn dự tính, dư sức chịu lãi suất cao mà vẫn còn có lãi.
Cái thời điểm khó khăn nhất của doanh nghiệp là giai đoạn chuyển đổi, từ lạm phát cao sang chững lại và giảm xuống. Lúc đó lãi suất cao mới là gánh nặng vì đội giá thành trong khi giá bán không tăng được nữa. Đó chính là giai đoạn hiện nay nên doanh nghiệp không vay, không mở rộng sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra những doanh nghiệp còn làm ăn được, cũng đang tìm những nguồn vốn khác chứ không chịu vay ngân hàng nữa. Làm ăn được hiện nay chỉ có những ngành liên quan đến xuất khẩu và nông nghiệp. Cả hai đều đang tận dụng khả năng chiếm dụng vốn (hoặc của nông dân, hoặc của khách hàng bằng nguyên vật liệu) nên cũng không đụng tới tín dụng ngân hàng.
Nhiều doanh nghiệp chọn con đường bán bớt cổ phần cho nước ngoài, tiền cũng rót vào kinh doanh, không qua tín dụng ngân hàng. Kiều hối những năm trước chảy vào địa ốc, nay địa ốc đóng băng, tiền sẽ chảy vào sản xuất, kinh doanh – chảy trực tiếp, không qua tín dụng ngân hàng.
Chính vì vậy trong năm 2012, tổng phương tiện thanh toán tăng 22,38% mà tín dụng chỉ tăng 8,91%; Đến cuối tháng 5/2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 5,46% mà tín dụng chỉ tăng 2,98%. Nói tóm lại, vẫn có tiền để duy trì mức tăng GDP như dự kiến, chỉ có điều một phần tiền này nó không chảy qua kênh tín dụng của ngân hàng (nền kinh tế phi chính thức của Việt Nam chiếm đến 30%).
Về phía ngân hàng, tín dụng không tăng nhiều khi là điều hay. Mấy năm trước có lúc huy động được 100 đồng, họ lại cho vay lên đến 116 đồng! Nay tỷ lệ này giảm còn 95% nhưng phải xuống nữa, chừng 80% mới phù hợp và 70% mới an toàn. Chứ cứ như mấy ngân hàng làm liều, vay tiền ngân hàng khác để cho vay thì sẽ sớm sụp tiệm.
*                      *                      *
Trước đó, các báo chạy tít “Mỗi tháng bơm thêm 40.000 tỷ đồng”; hay “Bơm 40.000 tỷ đồng tín dụng vào nền kinh tế mỗi tháng”… là sai rồi. Viết như thế nhiều người sẽ hiểu nhầm Chính phủ sẽ bơm một lượng tiền khổng lồ, 40.000 tỷ đồng/tháng, vào nền kinh tế. Tiền ở đâu mà “bơm” như thế?
Thật ra, tại Quốc hội, ông Nguyễn Xuân Phúc (Phó Thủ tướng) nói “…tất cả các tháng còn lại mỗi tháng chúng ta phải giải ngân được 40 nghìn tỷ/ tháng” để tín dụng cả năm tăng 12%. Chữ chúng ta ở đây phải hiểu là hệ thống ngân hàng.
Tín dụng tăng hay không là do ngân hàng (người cho vay), doanh nghiệp (người đi vay); còn chính phủ chỉ đóng vai trò thúc đẩy.
Những năm trước tín dụng tăng kỷ lục, có năm tăng trên 50%, chủ yếu đổ vào bất động sản và những ngành nghề liên quan. Nay bất động sản không hút tiền vì đang đóng băng thì tín dụng làm sao tăng được.
Giả thử năm ngoái bạn cho vay 100 đồng, muốn tăng 12% tức năm nay phải cho vay 112 đồng. Nhưng nay người vay cũ trả nợ và không vay nữa, tức duy trì 100 đồng đã khó, làm sao nghĩ đến chuyện cho vay 112 đồng. Ngân hàng cũng vậy, nợ cũ tăng nhanh, nay xẹp cũng nhanh, có cái thành nợ xấu, có cái người nào giỏi trả được nợ thì đâu dám vay nữa nên duy trì tín dụng ở mức bằng năm ngoái là đã giỏi lắm (chỉ sợ nó co hẹp lại, tăng trưởng âm nữa kìa) nói gì đến tăng trưởng. Cho nên trông chờ ngân hàng giải ngân mỗi tháng 40.000 tỷ đồng là chuyện khó, hầu như không thể thực hiện được.
Các nước cũng rơi vào tình trạng như thế nên cũng có chuyện bơm tiền ra. Và bơm hiểu theo nghĩa ngân hàng trung ương mua trái phiếu chính phủ (hay các tài sản tài chính) mà ngân hàng thương mại đang nắm giữ, đưa tiền cho ngân hàng để tiền chảy vào nền kinh tế. Thế mà ở Việt Nam đang làm ngược lại, ngân hàng thương mại bỏ tiền ra mua trái phiếu chính phủ! Và để cho khỏe Ngân hàng Nhà nước bèn tính khoản mua trái phiếu chính phủ đó cũng là tăng trưởng tín dụng!

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Nợ tư cao cũng đáng ngại không kém

Lâu nay người ta chỉ cảnh báo về mức độ nợ công đang tăng cao mà quên đi một thực tế: một mức nợ tư cao so với GDP cũng là một chỉ dấu đáng lo ngại không kém.
Nói nợ tư là để dễ hình dung khi so với nợ công chứ khái niệm chính xác ở đây là tổng dư nợ tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam mà theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) là tương đương 125% GDP, một tỷ lệ thuộc loại cao nhất khu vực. Điều đáng nói là tỷ lệ này tăng rất nhanh trong những năm qua: từ 35%/GDP năm 2000 lên 71,2% năm 2006, 93,4%% năm 2007, 90,2% năm 2008, 112,7% năm 2009 và 125% năm 2010 (Nguồn: WB).
Cho đến nay vẫn chưa ai giải đáp thỏa đáng vì sao tỷ lệ này lại tăng nhanh trong mấy năm vừa qua. Có người cho rằng đó là do bong bóng bất động sản, giá đất tăng, tín dụng cho địa ốc tăng nên tổng tín dụng tăng theo. Có người cho rằng tỷ lệ này cao là do hoạt động tài trợ tín dụng cho xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh, hiện lên trên 150% GDP nên phần tín dụng hỗ trợ cho nó cũng tăng theo. Cũng có nguồn phân tích cho là vì số lượng các tổ chức tín dụng tăng nhanh, kéo theo mức tăng tổng tín dụng chung của nền kinh tế, nhất là tăng trưởng của Việt Nam trong những năm vừa qua chủ yếu dựa vào đầu tư. Và cũng có lẽ chính sách kích cầu, qua bù lỗ lãi suất trước đây cũng là lý do cho nợ tư tăng nhanh như vậy.
Nhưng một tỷ lệ tín dụng bằng 125% GDP cho thấy nhiều điều. Một là dư nợ tín dụng tăng không tương quan với mức tăng GDP, cần một lượng tăng tín dụng cao mới làm ra một mức tăng GDP nhất định (ví dụ, năm 2007 GDP tăng 8,6%, dư nợ tín dụng tăng đến 53,4%). Hai là các kênh tài trợ vốn cho nền kinh tế không phát huy hiệu quả. Trái phiếu doanh nghiệp không phát hành được bao nhiêu; thị trường chứng khoán cũng không phải là nơi doanh nghiệp trông cậy để tìm vốn. Tất cả đều trông chờ vào tín dụng ngân hàng và từ đó dễ rơi vào những rủi ro.
Rủi ro thứ nhất là nợ xấu của ngân hàng sẽ tăng nhanh do quy mô của tín dụng. Một phần trăm nợ xấu ở một nền kinh tế có tổng dư nợ tín dụng chỉ bằng 50% GDP sẽ khác với 1% nợ xấu của nền kinh tế mà tổng dư nợ tín dụng lên đến 125% GDP. Theo TS Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia cao cấp Liên hiệp quốc, điều đáng quan ngại là nợ xấu theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước đã tăng lên trên 3%; tuy nhiên do cách tính không hợp chuẩn quốc tế, các tổ chức quốc tế đã cho rằng tỷ lệ nợ xấu cao hơn 3% nhiều.
Thứ nữa, doanh nghiệp phụ thuộc vào nợ vay của ngân hàng nên một khi nền kinh tế rơi vào tình huống lãi suất ở mức cao như hiện nay, doanh nghiệp dễ rơi vào chỗ đình đốn, phá sản. Ngược lại, hệ thống ngân hàng phải chấp nhận cho “đảo nợ”, nhất là với các dự án bất động sản đang đóng băng như là giải pháp khả thi duy nhất.
Bức tranh nợ nần của các nước châu Âu hiện nay cũng cung cấp nhiều bài học mang tính thời sự, ông Việt nhận định. Trước đây người ta cũng chỉ chú tâm vào con số nợ công nhưng nay đã bắt đầu có nhiều phân tích cho thấy nguyên nhân sâu xa hơn của vấn đề nợ công bắt nguồn từ tỷ lệ tín dụng trên GDP quá cao. Trích dẫn một bài báo trên tờ New York Times, ông Việt đưa ra ví dụ về Ireland, vào năm 2007 là nước mẫu mực về nợ công – chỉ có 11% GDP. Thế nhưng khi khủng hoảng tài chính nổ ra vào năm 2008, Ireland trở thành một trong những nạn nhân đầu tiên và hiện đang lâm vào cảnh nợ nần ngập đầu. Nguyên do là vì nợ tư (nợ của các hộ gia đình và doanh nghiệp phi tài chính) lên đến 241% GDP, cao nhất trong khu vực.
Phần lớn các khoản nợ này liên quan đến sự bùng nổ giá bất động sản ở nước này và sự sụp đổ thị trường địa ốc sau đó. Lúc bất động sản lên ngôi, tín dụng tăng vọt, ngân hàng ăn nên làm ra. Khi bong bóng bất động sản nổ tung, ngân hàng rơi vào bờ vực phá sản, nhà nước phải ra tay cứu, chuyển nợ tư thành nợ công.
Tỷ lệ tổng tín dụng trên GDP cao đã là chỉ báo; chất lượng tín dụng còn là chỉ báo rõ hơn nữa nếu phần lớn tín dụng rơi vào bất động sản hay các lãnh vực khác không tạo ra doanh thu. Nếu không chú ý đến những chỉ báo này, vấn đề nợ tư và nợ công Việt Nam càng đáng báo động.

Kinh tế Việt Nam đi về đâu?

Kinh tế Việt Nam đi về đâu?
Nhìn sao cũng đúng
Nhiều người ắt hẳn rất ngạc nhiên khi thấy các chuyên gia kinh tế của các tổ chức kinh tế, tài chính thế giới, kể cả các ngân hàng khi phân tích tình hình kinh tế Việt Nam đều tỏ ra lạc quan theo kiểu mọi chuyện đang tiến triển tốt đẹp, không có gì phải lo lắng. Ngạc nhiên là bởi cùng lúc đó phản ánh từ giới kinh doanh trong nước là một bức tranh u ám, một tình hình bi đát của hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ doanh nghiệp lớn cho đến doanh nghiệp gia đình.
Thật ra hai nhận định này không mâu thuẫn nhau là mấy, cái khác biệt là góc nhìn, là cách lượng giá các con số và các xu hướng.
Ví dụ lạm phát, từ chỗ lên đến 18,6% năm 2011, năm nay lạm phát đã được kéo về dưới một con số (dự báo cả năm chừng 9,2%), ắt hẳn các chuyên gia kinh tế sẽ đánh giá đây là một thành tựu đáng kể. Và những biện pháp được áp dụng để kiềm chế lạm phát sẽ được coi là đúng đắn như nâng lãi suất lên cao, thắt chặt tín dụng. Cũng những cụm từ đó nhưng nhìn từ góc độ doanh nghiệp lại là những hòn đá tảng, đè nặng lên vai họ: lãi suất cao, tức chi phí tài chính cao làm họ kiệt quệ, thắt chặt tín dụng đồng nghĩa ít có cơ hội cho họ vay vốn làm ăn dễ dàng như những năm trước.
Ở đây, phải thừa nhận công luận đôi lúc đảo chiều một cách thiếu nhất quán. Những năm trước, khi tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao, có năm như năm 2007 tăng đến 51%, kéo theo lạm phát phi mã, dư luận ai nấy đều đòi hỏi phải siết lại việc cho vay dễ dãi của hệ thống ngân hàng. Nay tăng trưởng tín dụng thấp, chính là hệ quả của việc các ngân hàng thận trọng trở lại, từng bước giải quyết nợ xấu, các doanh nghiệp từng bước giải quyết việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá đáng, lại bị mọi người chỉ trích như một chỉ tiêu không đạt yêu cầu. Có lẽ việc công luận đảo chiều trong trường hợp này là do mức thay đổi quá lớn, tín dụng tính cho đến cuối tháng 11 chỉ tăng 4,15%.
Hay chuyện tính toán cán cân thương mại, lần đầu tiên trong nhiều năm Việt Nam xuất siêu thay vì nhập siêu (mới năm ngoái đây thôi, Việt Nam nhập siêu đến gần 10 tỷ đô-la), không thể không xem đây là một thành tích đáng kể. Báo cáo của các tổ chức tài chính nước ngoài đều tô đậm yếu tố này bởi nó góp phần quyết định trong việc ổn định tỷ giá. Nhưng đó là góc nhìn vĩ mô; nhìn từ doanh nghiệp thì thấy tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu là do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong nước hầu như không tăng xuất khẩu. Còn nhập khẩu không tăng mạnh như mọi năm đồng nghĩa doanh nghiệp bế tắc, không thể nhập nguyên vật liệu về để sản xuất hoặc không bán được hàng nên không dám nhập hàng nhiều như các năm trước.
Một yếu tố khác cũng nhận được sự đánh giá khác nhau giữa hai góc nhìn vĩ mô và vi mô là chuyện nợ xấu. Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam thì lạc quan tin rằng Việt Nam sẽ xử lý được vấn đề nợ xấu. Đó là bởi tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam, dù còn bất nhất nhưng cứ lấy theo tỷ lệ cao nhất là 10% trên tổng dư nợ tín dụng mà có lần Thống đốc Ngân hàng Nhà nước buộc miệng công bố trên diễn đàn Quốc hội thì vẫn còn rất thấp so với tỷ lệ này ở các nước lúc xảy ra khủng hoảng nợ xấu. Theo một nghiên cứu của McKinsey, sau cơn khủng hoảng tài chính năm 1997, nợ xấu của các nước châu Á tăng vọt, lên khoảng 30% GDP, ví dụ nợ xấu tính đến cuối năm 2001 của Trung Quốc là 44-55% GDP, của Malaysia là 36-48% GDP hay của Thái Lan là 36-41% GDP. So sánh như thế thì nợ xấu Việt Nam dù có lên đến 15% GDP vẫn có thể giải quyết được.
Thế nhưng nhận định này không tính đến hai chuyện. Thứ nhất, ngay sau khủng hoảng tài chính 1997, các nước nhảy vào quyết liệt giải quyết nợ xấu còn ở Việt Nam, bàn thì nhiều, phát biểu thì hăng say trong khi bắt tay vào giải quyết nợ xấu, cho đến giờ đề án tổ chức công ty mua bán nợ xấu vẫn chưa có! Thứ hai, vì chưa có hướng giải quyết triệt để, nợ xấu làm giới ngân hàng không muốn cho vay ra nữa, tiền chỉ đổ vào trái phiếu chính phủ và có lẽ sắp tới là trái phiếu chính quyền địa phương.  
Như thế nhìn từ góc độ vĩ mô, tình hình kinh tế Việt Nam, theo các tổ chức tài chính quốc tế, dường như đang đi vào thế dần ổn định, thời điểm khó khăn nhất đã qua và các nguy cơ nổ ra khủng hoảng cán cân thanh toán hay khủng hoảng tài chính đã được giải quyết.
Tuy thế, nhìn từ góc độ doanh nghiệp các rủi ro khác vẫn có khả năng xảy ra. Đó là sự vỡ nợ dây chuyền từ doanh nghiệp này lây lan sang doanh nghiệp khác rồi từ doanh nghiệp đến ngân hàng hay từ doanh nghiệp đến người lao động. Ví dụ người ta chỉ chú ý đến hai bên trong tranh chấp bảo lãnh phát hành trái phiếu giữa Công ty Tài chính Cổ phần Vinaconex - Viettel và ngân hàng SeABank mà quên đi nhân vật chính, Công ty Vina Megastar, nơi phát hành trái phiếu và nay không trả được nợ. Dự báo sẽ còn nhiều vụ như thế, nhất là các khoản nợ có liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước.
Đây là cái giá phải trả trong quá trình trở lại những giá trị kinh doanh căn bản chứ không chạy theo các loại bong bóng tài sản như trước. Tái cơ cấu một doanh nghiệp là đã tốn kém, huống gì phải tái cơ cấu cả nền kinh tế. Điều đáng băn khoăn là chi phí của quá trình này, nhất là khi liên quan đến khối doanh nghiệp nhà nước hay hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, lại đang được chia đều ra cho người dân ai cũng phải gánh. Dọn dẹp hậu quả của lòng tham thì lẽ ra thủ phạm chạy theo lòng tham phải gánh chịu trước tiên chứ không phải là người dân bình thường.

Vấn đề nằm ở dòng tiền!

Trước khi bàn chuyện giải cứu bất động sản, cần chẩn bệnh cho đúng tình thế khó khăn của khu vực này, nếu không các đề xuất giải cứu chỉ là chuyện viển vông.
Dòng tiền, chứ không phải là lời lỗ, mới là yếu tố quyết định trong nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp, dù ngồi trên đống tài sản khổng lồ, làm ăn vẫn đang có lãi nhưng gặp vấn đề với dòng tiền cũng có thể lâm vào cảnh phá sản về mặt kỹ thuật. Chuyện này càng đúng với ngành bất động sản.
Một doanh nghiệp có trong tay 30 tỷ đồng, vay ngân hàng thêm 70 tỷ đồng để làm một dự án xây căn hộ trị giá 100 tỷ đồng. Doanh nghiệp này trông chờ vào dòng tiền thu về khi bán các căn hộ, tính ra có thể bán được với giá 150 tỷ đồng để trả tiền cho ngân hàng, thu hồi vốn và lãi. Nay bỗng dưng thị trường căn hộ đóng băng, bán không ai mua, ắt dòng tiền bị thắt nghẽn, nợ vay ngân hàng thành nợ xấu, nguy cơ phá sản gần kề dù tài sản vẫn còn đó.
Bức tranh này, cũng là bức tranh tương tự của hiện tượng bong bóng bất động sản ở nhiều nước, đang là tình trạng phổ biến của nhiều doanh nghiệp bất động sản Việt Nam. Nhưng dòng tiền bất động sản ở Việt Nam có những đặc điểm khác các thị trường khác – và đây chính là nút thắt của thị trường.
Ở các nước, mỗi khi làm dự án bất động sản, người ta tính toán với dòng tiền dự tính thu về trong 20, 30 năm hay dài hơn nữa. Cho dù sau này chủ đầu tư bán dự án lại cho ngân hàng thì kỳ vọng về dòng tiền luôn gắn với một thời gian rất dài.
Ở Việt Nam, vào thời kỳ “người, người, nhà nhà” nhảy vào kinh doanh bất động sản, người ta xây dựng dự án rất lạc quan, rất ngắn hạn, vòng đời dự án ngắn, dựa trên lượng cung ảo, tỷ suất hoàn vốn nội bộ cao ngất; họ kỳ vọng vào một dòng tiền nóng hổi chảy nhanh về túi ngay sau khi hoàn thành dự án. Bởi thực tế lúc đó cho thấy kỳ vọng như thế không có gì quá đáng. Dự án còn trên giấy đã bán thu tiền. Nhà chỉ mới đổ xong móng, đã có hàng ngàn người chen nhau mua. Người mua hầu như là người đầu tư, mong tìm chênh lệch giá khi mua bất động sản nên mua bằng tiền của chính họ, mua trả hết chứ không có chuyện trả dần trong 20, 30 năm. Nay thị trường đóng băng, chênh lệch giá không còn, lập tức dòng tiền nóng này biến mất, chủ đầu tư lâm vào bế tắc ngay. Nếu họ xây dựng dự án với tầm nhìn 20, 30 năm chưa chắc đã khó khăn như hiện nay.
Chính vì đặc điểm này nên trước đây thị trường bất động sản Việt Nam sử dụng đòn bẩy tài chính với tỷ lệ cao – người ta liều lĩnh vay tiền và ngân hàng liều lĩnh cho vay làm dự án trong khi vốn của chủ đầu tư là không đáng kể bởi ai nấy đều nghĩ sẽ thu hồi vốn rất nhanh. Bong bóng vỡ, tiền không về nhanh như mong đợi trong khi lãi suất cao đang đè nặng thị trường và đồng thời đe dọa luôn sức khỏe của các ngân hàng thương mại.
Nhiều doanh nghiệp rót tiền từ lãnh vực kinh doanh chính của mình, có thể là chế biến thủy sản, đóng tàu, làm đồ gỗ… vì cứ nghĩ đẩy một dòng tiền ổn định, chắc chắn vào nơi sẽ tạo ra dòng tiền thu hồi nhanh, lãi cao gấp mấy lần là chuyện khôn ngoan. Nào ngờ, dòng tiền thu hồi nhanh không tồn tại mà dòng tiền ổn định của ngành nghề kinh doanh chính cũng bị ảnh hưởng theo.
Gom những yếu tố này lại, chúng ta thấy ngay đặc điểm nữa của thị trường bất động sản Việt Nam: đó là sự dắt đây, sự dính líu của thị trường đến nhiều khu vực khác của nền kinh tế. Dòng tiền bất động sản cạn kiệt làm ảnh hưởng dây chuyền đến nhiều dòng tiền khác. Bất động sản từng là nguồn cơn của khủng hoảng kinh tế ở nhiều nước như Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ. Ở Việt Nam bất động sản cũng đang và sẽ là ngòi nổ nhiều cơn chấn động khác. Trước tiên là các ngân hàng, liên quan trực tiếp khi cho vay kinh doanh bất động sản hay liên quan gián tiếp khi nhận tài sản thế chấp là bất động sản – tất cả thể hiện thành vấn nạn nợ xấu đang là gánh nặng cho cả nền kinh tế. Thứ đến là các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ngoài ngành, ở đây là vào bất động sản, với những khoản thiệt hại khổng lồ, khó giải quyết. Báo chí đang đăng tải những câu chuyện liên quan đến nút thắt dòng tiền bị nghẽn ở mọi nơi, mọi lãnh vực. Từ chuyện doanh nghiệp thủy sản vỡ nợ vì đổ vốn vào bất động sản đến chuyện ngân hàng phát mãi nhiều dạng nhà dưới giá thị trường; từ chuyện tồn kho các sản phẩm liên quan đến xây dựng đến doanh nghiệp nợ nần lẫn nhau vì bất động sản.
Nếu không giải quyết dòng tiền cho bất động sản, chính ngân sách nhà nước cũng sẽ khó khăn. Ví dụ thu tiền sử dụng đất năm 2011 lên đến trên 50.000 tỷ đồng trong khi 9 tháng đầu năm 2012, khoản thu này chỉ còn 23.000 tỷ đồng. Ngân sách nhiều địa phương trông chờ vào khoản thu tiền sử dụng đất này, nay không có để thu thì mất cân đối ngân sách đương nhiên sẽ xảy ra.
Trong bối cảnh đó, chúng ta sẽ thấy ngay sự phi lý của nhiều đề xuất giải cứu bất động sản. Ví dụ có nơi đề nghị nhà nước bỏ ra vài ngàn tỷ đồng để cấp bù lãi suất cho người mua nhà. Ngân sách đang cạn kiệt lại trông chờ tiền bù lãi suất từ két sắt nhà nước! Càng phi lý hơn với đề xuất địa phương bỏ tiền ra mua nhà, sau này bán lại cho dân! Các địa phương đang tính chuyện phát hành trái phiếu để trang trải chi tiêu, lấy đâu ra tiền mua nhà?
Các đề xuất giảm thuế giá trị gia tăng, chia nhỏ căn hộ cho dễ bán cũng khó lòng có tác dụng vì nhắm đến người mua có nhu cầu thực sự trong khi đối tượng mà nhiều dự án nhắm đến là người mua đầu cơ, trả tiền ngay để tạo ra dòng tiền như đề án nguyên thủy của họ. Các đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, giãn thời điểm nộp tiền sử dụng đất e rằng chẳng có hiệu quả gì nhiều so với kỳ vọng dòng tiền nóng thu hồi nhanh của nhiều chủ đầu tư.
Giải pháp cho thị trường bất động sản, do những yếu tố nói trên, ắt phải đến từ bản thân các doanh nghiệp bất động sản: thay đổi hoàn toàn những tính toán tài chính cho dự án, dựa vào dòng tiền, nay phải kéo dài ra 20, 30 năm, để trang trải vốn vay, thu hồi vốn. Thay đổi đó có thể sẽ thể hiện bằng nhiều hình thức. Giảm giá bất động sản mạnh hơn nữa, đến 30% như nhiều phân tích, để chuyển đổi được đối tượng người mua, là người thật sự có nhu cầu. Từ đó các giải pháp nhắm đến việc kích thích sức mua như giảm thuế mới có tác dụng. Bán lại dự án cho các định chế tài chính có khả năng lập kế hoạch với dòng tiền dài hơi hơn. Dĩ nhiên mức chiết khấu phải cao mới bán được. Hợp tác thật sự với các ngân hàng để tính toán lại dòng tiền qua cơ chế mua trả góp như các thị trường bất động sản nước ngoài.
Dù sao, các bên liên quan trên thị trường bất động sản phải nhận ra một thực tế: đã nhiều năm họ đã có những ảo tưởng về sự bền vững của thị trường nên góp sức thổi bong bóng ngày càng to và cũng đã có lúc thu lợi lớn. Nay họ phải gánh chịu phần chính khi bong bóng xẹp bằng cách tự điều chỉnh. Không thể bắt ngân sách nhà nước gánh chịu qua các biện pháp như giảm thuế vì như thế sẽ không công bằng với người dân. Càng không thể đòi chuyển các dòng tiền đang lành mạnh sang bù đắp cho dòng tiền bất động sản, như một số đề xuất, bởi đó chính là thể hiện rõ nhất của tác hại từ nhóm lợi ích.

Mau quên

Khi nói về chỉ số giá tiêu dùng năm 2012, người ta sẽ nói ngay con số 6,81% được các quan chức và báo chỉ sử dụng.
Ít ai để ý đến con số 9,21%, là chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm 2012 so với cả năm 2011.
Thế mà vào năm 2007 đã từng có tuyên bố rằng từ nay về sau Việt Nam sẽ chỉ dùng cách tính chỉ số giá bình quân. Lúc đó, chỉ số giá bình quân lại thấp hơn so với cách tính cùng kỳ nên có báo mới hỏi đại diện Bộ Tài chính, liệu cách tính mới là để có con số đẹp. Bộ Tài chính trả lời ngon lành: “Không phải chúng ta thấy giá cao quá thì tính theo cách mới. Cái chính là phải thông tin khách quan, trung thực, đảm bảo được thông lệ quốc tế”. Lời giải thích của một quan chức khác nghe cũng rất hợp lý, rằng “dùng chỉ số tháng 12 để kiểm soát lạm phát không phù hợp quốc tế. Chỉ mỗi tháng 12 so với năm trước gọi là cả năm thì không phù hợp. Chính phủ đồng ý từ nay sử dụng chỉ số bình quân năm.”
Nay cái gọi là thông lệ quốc tế bị quên đi, người ta lại quay về cách tính cũ, có lẽ bởi con số bình quân cao hơn hẳn và để khoe, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 6,81%, thấp hơn so với chỉ tiêu do Quốc hội đề ra là 7%. Chỉ có Tổng cục Thống kê vẫn công bố trên trang web của mình: “Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 so với năm 2011: 9,21%”.

Giá thuê, giá mua

Con số đầu tiên trong bất động sản được nhiều người quan tâm là giá nhà đất, bao nhiêu là vừa? Có người nói giá cả do thị trường quyết định, cứ theo giá thị trường hiện nay là không sai. Có người phản bác, thị trường nay đang méo mó, bất động sản tồn kho cao, cung vượt xa cầu, lẽ ra giá phải giảm cho đến khi cung cầu gặp nhau nhưng nào có giảm đâu. Lại có người bảo, giá không thể giảm là do chủ đầu tư đã lỡ kê giá dự án lên cao để vay tiền, nay giảm giá, dù bán được cũng không đủ tiền trả nợ. Chủ nợ là ngân hàng cũng không muốn bất động sản giảm giá vì kẹt giá trị thế chấp lỡ định ở mức cao rồi, cứ để vậy hóa ra có lợi hơn cho sổ sách.
Vậy có cách nào ước chừng giá nhà sao cho hợp lý? Ở các nước có một tỷ lệ thường được dùng để xem thử giá nhà trên thị trường hiện đang đắt hay rẻ. Đó là tỷ lệ tiền thuê nhà so với giá nhà. Lệ thường, tiền thuê nhà tính theo năm, nhân cho 15 thì ra kết quả, được xem là giá căn nhà đó ở mức hợp lý. Ví dụ một căn nhà đang cho thuê với giá 1.500 đô-la/tháng thì 270.000 đô-la (tức 1.500 x 12 x 15) là trị giá phù hợp nhất của căn nhà đó. Thật ra, người ta bảo giá nhà thường nằm trong khoảng tỷ lệ 15-20; dưới 15 là đang rẻ, quá 20 là đắt.
Lấy cách tính này để áp giá nhà cho thị trường Việt Nam chắc chắn là không chính xác. Thứ nhất, tiền thuê nhà ở Việt Nam so với giá trị căn nhà là quá thấp. Ví dụ một căn hộ đang cho thuê 6 triệu đồng/tháng, tức 72 triệu đồng/năm, nếu áp tỷ lệ 15-20 nói trên thì giá căn nhà chỉ vào khoảng 1 tỷ đến 1,4 tỷ đồng trong khi giá thị trường của nó có thể lên đến 3-4 tỷ đồng. Cái này là do yếu tố lịch sử, nhiều người đầu tư mua nhà không phải để cho thuê mà để đợi giá lên và đồng thời bảo toàn được đồng vốn. Trong khi đợi giá lên, họ cho thuê để có người giữ nhà, lại có đồng ra đồng vào. Thử nghĩ mà coi, một căn nhà trị giá 3 tỷ đồng, nếu chủ nhà đem khoản tiền này bỏ vào ngân hàng, hàng tháng có thể nhận lãi lên đến 30 triệu đồng, trong khi làm gì có thể cho thuê căn nhà đấy với giá 10 triệu đồng? Thế mà họ vẫn cho thuê giá thấp vì không hề nghĩ đến chuyện khấu hao nhà cửa, chỉ nghĩ giá chỉ có lên, đồng tiền được an toàn trước rủi ro lạm phát.
Vì thế, kỳ vọng như nhiều ý kiến cho rằng nên khuyến khích phát triển thị trường nhà cho thuê, nhà đầu tư bất động sản nên chuyển từ bán sang cho thuê là chuyện không khả thi. Giá thuê nhà thấp sẽ khó lòng đáp ứng yêu cầu một dòng tiền giúp họ thu hồi vốn và có lãi trong bối cảnh hiện nay; giá thuê cao thì thị trường không chấp nhận. Đó là chưa kể, khác với thị trường cho thuê nhà của người dân với nhau, doanh nghiệp địa ốc cho thuê nhà phải tính đến khấu hao, càng đẩy giá cho thuê lên cao, ít ai chịu nổi.
Ngược lại, muốn chuyển người đang thuê nhà sang mua nhà thì phải làm sao khoản tiền trả góp hàng tháng của họ chỉ cao hơn tiền thuê nhà một mức độ vừa phải họ mới chịu nổi chứ cao gấp 2 hay 3 lần thì chẳng thà họ đi thuê nhà sướng hơn. Nói như thế để thấy muốn thị trường bất động sản trở về trạng thái bình thường, giá nhà phải giảm và giảm mạnh hơn nữa, lãi suất cũng phải giảm mạnh. Đó là những yếu tố phải tính đến khi nghĩ đến chuyện bù lãi suất cho người mua nhà.

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Các kiểu nợ xấu

Cũng là nợ xấu nhưng vấn đề nợ nước ngoài của Thái Lan năm 1997, nợ dưới chuẩn của Mỹ và nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam có những đặc điểm khác nhau nên cách giải quyết cũng khác nhau.  
Khủng hoảng do nợ ở Thái Lan năm 1997
Cách đây hơn 15 năm, vào tháng 7-1997 tôi có dịp đi công tác ở Thái Lan ngay đúng ngày chính phủ nước này quyết định thả nổi đồng baht, khơi mào cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn châu Á. Lúc đó dĩ nhiên báo chí đưa tin rầm rộ, phân tích đủ kiểu nhưng vẫn thiếu vắng một cái nhìn tỉnh táo toàn diện vấn đề nợ của Thái Lan – một cái nhìn chỉ vài năm sau mới lắng xuống thành lịch sử kinh tế. Thậm chí lúc đó, tôi còn khá ngây thơ khi phỏng vấn Thủ tướng đương nhiệm Chavalit Yongchaiyudh, “ông có thể tiên đoán gì cho nền kinh tế Thái Lan trong sáu tháng tới?” Câu trả lời của Chavalit cũng “ngây thơ” không kém: “Tại bất kỳ nước nào, tình hình kinh tế không thể đảo ngược trong vòng sáu tháng. Chúng ta không thể trông chờ sự phục hồi trong sáu tháng. Nhưng các bạn sẽ thấy phép lạ xảy ra tại Thái Lan, tôi tin thế”.
Những tháng sau đó, đồng baht mất một nửa giá trị, nền kinh tế Thái Lan suy sụp hoàn toàn, hàng loạt cao ốc, công trình xây dựng bị đình trệ, nạn thất nghiệp tràn lan, hàng loạt doanh nghiệp lớn phá sản, nhiều ngân hàng đóng cửa. Chỉ một tháng sau tuyên bố của Chavalit, IMF phải nhảy vào và bỏ ra 17,2 tỷ đô-la Mỹ để cứu nền kinh tế Thái Lan.
Bài học về nợ của Thái Lan là gì? Vấn đề nợ của Thái Lan mang yếu tố nước ngoài. Trong nhiều năm liền GDP của Thái Lan tăng bình quân đến 9% mỗi năm, lạm phát thấp, đồng baht gắn cố định với đồng đô-la Mỹ (25 baht ăn 1 đô-la Mỹ) nhưng lãi suất cao (khoảng 13,25% trước khủng hoảng) nên người ta thay nhau vay tiền nước ngoài vô tội vạ. Vay tiền về đổi ra đồng baht gởi vào ngân hàng cũng đã có lãi rồi nên nợ nước ngoài của Thái Lan tăng nhanh, là nguyên nhân chính gây khủng hoảng. Nhất là các khoản tiền này đổ vào bất động sản, tạo ra tình trạng bong bóng hay đổ vào xây dựng nhà máy xi măng, sắt, thép, hoá dầu để cuối cùng xảy ra tình trạng dư thừa ở hầu hết các ngành cơ bản.
Đến năm 1997, nợ nước ngoài của Thái Lan vọt lên 109 tỷ đô-la Mỹ, đa phần là vay ngắn hạn, cán cân vãng lai lại thâm hụt trong nhiều năm liền. Giới đầu cơ nhận định trước sau gì chính phủ Thái cũng phải phá giá đồng tiền bèn nhảy vào đầu cơ đánh giá xuống. Họ vay tiền baht, đổi ra tiền đô-la, khiến chính phủ Thái phải bỏ ra 24 tỷ đô-la (gần hai phần ba dự trữ ngoại tệ) để bảo vệ cái tỷ giá cố định trên và đến khi hết tiền, phải tuyên bố thả nổi đồng baht. Từ 25 baht ăn 1 đô-la Mỹ chỉ trong vòng vài tháng, giá trị đồng tiền này sụt xuống còn 56 baht/1 đô-la Mỹ. Rõ ràng các khoản vay nợ nước ngoài tính bằng tiền baht bỗng dưng tăng gấp đôi, làm nhiều ngân hàng phá sản vì con nợ trong nước phá sản. Khủng hoảng xảy ra và chứng khoán Thái Lan giảm từ đỉnh cao 1.753 điểm còn 207 điểm vào năm 1998. Phải mất 10 năm GDP Thái Lan tính theo đô-la mới phục hồi về lại mức năm 1996. Một ghi chú nhỏ: Thủ tướng Chavalit phải từ chức vào tháng 11-1997, không thể chờ phép lạ xảy ra.
Nợ dưới chuẩn ở Mỹ
Năm 2004 khi qua Mỹ tiếp xúc với khá nhiều người trong cộng đồng người Việt, tôi thấy nổi lên một xu hướng rất rõ: vay tiền mua nhà, rồi dùng nhà đó vay tiền mua nhà tiếp, chờ giá lên để bán hưởng lợi. Có người có đến 4 căn nhà to đùng trong khi nhu cầu không có. Lúc đó, ai cũng “phấn khởi” vì giá nhà vẫn đang lên, cao hơn so với giá mua khá nhiều. Nhẩm tính tiền lãi, ai nấy cũng rộng tay chi xài nhiều hơn thường lệ.
Thật vậy, sau này nhìn lại, người ta bảo lúc đó cho vay mua nhà ở Mỹ khá dễ dàng, những tiêu chí về nguồn thu nhập để trả nợ bị xem nhẹ - từ đó mới có từ “nợ dưới chuẩn”. Bong bóng bất động sản thu hút nhiều người tham gia (đến 40% mua nhà để đầu tư chứ không phải để ở) chừng nào giá nhà vẫn tăng đều đặn (tăng đến 124% từ năm 1997 đến năm 2006). Đến giữa năm 2006 lúc giá nhà đã lên đến đỉnh và bắt đầu giảm nhanh, vấn đề nợ dưới chuẩn nổ ra. Tiền vay mua nhà thường có lãi suất thả nổi và khi lãi suất tăng mạnh, nhiều người mất khả năng chi trả tiền nhà hàng tháng cho ngân hàng. Ngân hàng, trước đó, đã gói những hợp đồng vay tiền mua nhà trả góp đó thành sản phẩm tài chính, đem bán trên thị trường chứng khoán. Các tập đoàn tài chính ôm lấy những loại chứng khoán không còn sinh lợi này bắt đầu rơi vào tình trạng khó khăn, có nơi phá sản. Khủng hoảng nổ ra mà hiệu ứng vẫn còn kéo dài cho đến tận bây giờ.
Bài học nợ dưới chuẩn ở Mỹ là sự dễ dãi của giới ngân hàng khi cho vay rồi sự lừa dối của nhiều bên liên quan khi biến nợ thành sản phẩm chứng khoán, mua bán trên thị trường làm lây lan một cuộc khủng hoảng lẽ ra chỉ giới hạn trong lãnh vực bất động sản. Ở đây vấn đề tín dụng rẻ, dễ dãi cũng là thủ phạm; tiền cũng chạy từ nhiều nước vào Mỹ nên khủng hoảng quay ngược ảnh hưởng trở lại nhiều nước. Tỷ lệ nợ dưới chuẩn tăng nhanh lên đến 20% tổng dư nợ cho vay mua nhà và hậu quả là tháng 10-2007, tỷ lệ nợ xấu buộc phải tịch biên nhà lên 16%, tăng lên 21% vào đầu năm 2008 và 25% vào tháng 5-2008.
Trở lại Mỹ vào năm 2010, gặp nhau, người ta không còn kể chuyện mua nhà nữa mà là chuyện “kéo nhà”, tức là nơi cho vay tịch biên nhà, bán để thu hồi nợ. Người nào trước đây mua càng nhiều nhà, giờ càng bạc tóc vì lo vì trở thành con nợ không lối thoát.
Nợ xấu Việt Nam
Mới nhìn qua vấn đề nợ xấu Việt Nam cũng có những căn nguyên tương tự: tín dụng dễ dãi, dư nợ tăng vọt, tiền đổ vào nhiều, bất động sản nóng sốt, chứng khoán lên ngôi, thúc đẩy nhiều dự án hoành tráng chỉ để làm tăng giá trị cổ phiếu. Đến khi chứng khoán suy sụp, thị trường bất động sản đóng băng và nhất là khi tín dụng bị siết chặt, nợ xấu bùng phát.
Nhưng nợ xấu ở Việt Nam không giống ở Thái Lan thời thập niên 1990 ở góc cạnh không phải là nợ nước ngoài. Dư nợ của hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu là từ trong nước. Cho đến nay áp lực của nợ xấu lên tỷ giá là chưa đáng kể, nên không gây ra áp lực phá giá đồng tiền. Nợ nước ngoài của Việt Nam tăng khá nhanh, từ 31,4% GDP năm 2006 lên 41,5% GDP năm 2011 nhưng chủ yếu là các khoản vay dài hạn của Chính phủ như vốn vay ODA chứ vay thương mại chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Giả thử có thêm vài ba khoản nợ xấu có nguồn gốc nước ngoài như các khoản vay của Vinashin bị Elliott đòi như vừa qua thì tình hình đã rối ren hơn nhiều.
Các gói nợ xấu của Việt Nam cũng chưa bị đóng gói thành sản phẩm chứng khoán để đem ra bán nên tác động của nợ xấu chưa mang tính lây lan mạnh như cuộc khủng hoảng ở Mỹ.
Tuy nhiên nợ xấu Việt Nam lại mang những đặc điểm đáng lo ngại không kém. Đầu tiên là sự thiếu vắng những con số chính xác, được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem như chuyện bình thường. Trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra hai con số: “Theo số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 30-9 thì nợ xấu là 4,93%. Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước thì con số này nằm ở khoảng 8,82%”. Các ngân hàng báo cáo một đằng, đánh giá của NHNN một nẻo mà lại không có biện pháp gì chấn chỉnh, ít nhất về mặt báo cáo số liệu là chuyện khó chấp nhận. Muốn có những giải pháp tốt cho vấn đề nợ xấu thì trước tiên phải có thông tin chính xác về nợ xấu.
Thứ hai, nguồn gốc nợ xấu chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước hay chính quyền các cấp. Chỉ tính riêng tập đoàn Vinashin, các khoản nợ đến hạn phải trả hàng năm từ lúc nổ ra khủng hoảng lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm. Vinashin bất lực, không trả được, chúng đã biến thành nợ xấu của các ngân hàng! Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước như thế hiện là con nợ khó đòi. Theo một báo cáo, doanh nghiệp nhà nước chiếm đến 70% tổng nợ xấu. Bên cạnh đó, nợ đọng xây dựng cơ bản mà con nợ là các bộ, ngành và chính quyền địa phương cũng làm nhiều nhà thầu trở thành con nợ xấu của ngân hàng. Con số nợ đọng này lên đến 90.000 tỷ đồng nhưng bao nhiêu phần trăm biến thành nợ xấu thì không có số liệu. Như thế, giải quyết nợ xấu trở thành chuyện của nhà nước, phải tính đến chuyện khoanh nợ, tái cấp vốn – tất cả sẽ đè nặng lên ngân sách vốn đã eo hẹp. Nếu không, làm sao có chuyện ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp của doanh nghiệp nhà nước, có ai dám bán tài sản của các doanh nghiệp này dưới giá sổ sách, đất đai được cấp nay giải quyết làm sao?
Loại trừ khoản nợ xấu nói trên, phần còn lại thiết nghĩ không khó giải quyết. Lúc đó bài học giải quyết nợ xấu ở Thái Lan hay ở Mỹ sẽ rất hữu ích. Đó là mạnh dạn cho đóng cửa những ngân hàng nào yếu kém, cho vay bất chấp rủi ro, định giá tài sản thế chấp sai lầm, lại không chịu trích lập dự phòng đầy đủ… Đó là sửa đổi Luật Phá sản để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bất động sản có lối thoát, tự nhiên giá cả sẽ quay về mức xã hội chấp nhận được và một phần lớn nợ xấu sẽ được thu hồi. Không lẽ chúng ta phải đợi những hệ quả của nợ xấu xảy ra như phá giá đồng tiền ở Thái Lan, vỡ nợ tại nhiều ngân hàng ở Mỹ… lúc đó mới chịu có biện pháp mạnh tay?

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Tình hình kinh tế Việt Nam đang như thế nào?

Một câu hỏi thường trực trong tâm trí nhiều người là sức khỏe kinh tế thực sự đang ra sao mà thấy sao có nhiều dấu hiệu trái ngược nhau quá. Nhìn quanh, ai cũng nói chuyện doanh nghiệp tư nhân rơi rụng đến con số hàng chục ngàn, thậm chí cả trăm ngàn, ai cũng có quen biết với một người vừa mới thất nghiệp và ai cũng thấy làm ăn ngày càng khó khăn, thậm chí đến chỗ bế tắc. Các đại biểu Quốc hội than nghe còn bi đát hơn như “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi”.
Nhưng lùi lại một chút, nhìn vào các chỉ số quan trọng thì thấy tình hình đang cải thiện: lạm phát được kềm chế, tỷ giá ổn định, cán cân thương mại tương đối cân bằng, xuất khẩu tăng trưởng tốt, và đặc biệt thị trường chứng khoán đang ấm dần lên.
Tìm đâu ra một góc nhìn khách quan, có thể tin cậy được!
Trong một tài liệu bằng tiếng Anh tôi được đọc qua, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright kết hợp với Trung tâm Ash thuộc trường Harvard Kennedy School lại một lần nữa đưa ra những nhận định sắc bén, phân tích thẳng những vấn đề của nền kinh tế.
Trước hết bản báo cáo cho rằng Việt Nam vừa thoái khỏi một tình hình nguy cấp, nền kinh tế suýt đổ vỡ cách đây khoảng 12 tháng. Nhưng nền kinh tế không phải đang phục hồi mà đúng hơn là rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài. Muốn thoái khỏi tình trạng này, Việt Nam phải dọn dẹp hệ thống ngân hàng, tiếp tục cải tổ khối doanh nghiệp nhà nước và hồi sức cho khu vực tư nhân trước khi thành tựu của 14 năm qua bị xóa sạch.
Tuy nhiên dường như không ai muốn hành động gì, không muốn thay đổi hiện trạng vì 5 nhầm tưởng (myths) khá phổ biến trong giới lãnh đạo.
-          Nhầm rằng: Khủng hoảng đã qua, tình hình đang dần cải thiện (nên không cần làm gì cả);
-          Nhầm rằng: Giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng không cần phải dùng đến ngân sách Chính phủ (nên vốn VAMC chỉ có 500 tỷ đồng);
-          Nhầm rằng: Các tập đoàn, tổng công ty có thể tự tái cấu trúc bằng các kế hoạch do chính họ soạn thảo (theo kiểu tự mình nắm đầu tóc kéo lên khỏi bùn);
-          Nhầm rằng: Có thể phục hồi khu vực tư nhân bằng các biện pháp tài khóa (giảm thuế) và tiền tệ (giảm lãi suất) (trong khi thực tế các thành tựu của Luật Doanh nghiệp đang gần như bị xóa sổ dần);
-          Nhầm rằng: Khu vực nông nghiệp có thể tiếp tục là tấm đệm, giảm sốc cho nền kinh tế, thu nhận hết lượng lao động công nghiệp bị mất việc (thực tế nền nông nghiệp rất dễ bị tổn thương, môi trường đang ô nhiễm, sức nông dân đã cạn).
Khác với lần khủng hoảng cuối thập niên 1990, lúc đó Việt Nam đã đưa ra những cải cách mạnh mẽ, nhất là việc cho ra đời Luật Doanh nghiệp năm 2000 nên kinh tế phục hồi nhanh chóng và bền vững trong nhiều năm liền, lần này chính sách chỉ thấy xoay quanh hai chuyện “nới lỏng” và “thắt chặt” nên nền kinh tế cứ giật cục, tăng trưởng cao thì lạm phát nhiều, kềm chế lạm phát thì kinh tế trì trệ. Ba chương trình cải cách lớn về doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng và đầu tư công hầu như chưa triển khai được gì cụ thể. Nợ xấu mà giải quyết theo cách như hiện nay chỉ là tạm thời khoanh nó lại, chuyển sang tương lai.
Nếu cứ để yên như thế này thì nền kinh tế sẽ chỉ còn tăng trưởng khoảng 3%, khó khăn kéo dài, doanh nghiệp tư nhân tiếp tục phá sản, thất nghiệp tiếp tục lan rộng.
Riêng tôi chỉ bổ sung thêm một ý: Nền kinh tế Việt Nam trước nay phát triển chủ yếu nhờ yếu tố vốn. Nay tín dụng không tăng thì làm sao có tăng trưởng? Tín dụng chắc chắn sẽ không tăng mạnh vì ngân hàng đang lo dọn dẹp lại bảng cân đối tài chính cho lành mạnh, doanh nghiệp cũng không còn sử dụng đòn bẩy nợ mạnh mẽ như trước, sức lực cũng không còn để đi vay chịu rủi ro. Nợ xấu mà giải quyết theo cách kéo dài trong năm năm thì ngân hàng càng không có sức lực hay động lực đâu để cho vay. Trong bối cảnh đó, như một quy luật bù trừ về khoản trống vốn, nhiều lãnh vực quan trọng của nền kinh tế tiếp tục rơi vào tay đầu tư nước ngoài, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp.
                                                                                                     Theo Nguyễn Văn Phú